TRÍCH DẪN HAY

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

Tài nguyên dạy học

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH CỦA THƯ VIỆN

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    GIỚI THIỆU WEBSITE HỌC LIỆU

    Kính gửi quý thầy cô và các em học sinh thân mến! Thư viện trân trọng giới thiệu “Trang học liệu trực tuyến của Thư viện” — không gian số giúp quý thầy cô và các em dễ dàng tiếp cận sách, tài liệu học tập và nguồn học liệu bổ ích mọi lúc, mọi nơi. Trên trang học liệu, các em có thể tìm thấy sách tham khảo, đề cương ôn tập, bài giảng điện tử… giúp hỗ trợ việc học và nghiên cứu hiệu quả. Quý thầy cô cũng có thể sử dụng để gợi ý tài liệu học tập, thiết kế bài giảng hoặc phụ đạo học sinh dễ dàng hơn. Xin mời mọi người cùng khám phá, tận dụng nguồn học liệu quý giá này để nâng cao tri thức và lan tỏa niềm yêu thích đọc — học trong nhà trường.

    Ảnh ngẫu nhiên

    Clip_image0045.jpg Clip_image0025.jpg Genhz7409847967692_ed95e638ad0ad1006cdf9a1e143f5bd2.jpg Genhz7409848015977_1b558c1369320e6352fe2734aecc4227.jpg Genhz7352097497417_c0608bfbc5e31a5fb08ef34f74181181.jpg 7A.jpg 8B.jpg Genhz7352097428679_b094753022cda4f40b639c7bef3c0ed4.jpg Tiet_doc_mo_rong.jpg

    💕💕 Sách làm phong phú tâm hồn, còn học biết từ sách làm cao đẹp nhân cách.💕Đọc sách là cách trò chuyện với những người thông thái nhất qua mọi thời đại.💕

    Sách nói Đảo Mộng Mơ - Nguyễn Nhật Ánh

    khoa học nghịch lý

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Thị Hồng Vân
    Ngày gửi: 20h:26' 20-03-2024
    Dung lượng: 823.9 KB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    KHOA HỌC:
    NGHỊCH LÝ, NGHỊCH LÝ...

    1

    HỘI ĐỒNG BIÊN TẬP TỦ SÁCH

    KIẾN THỨC THỜI ĐẠI
    Giáo sư LÊ MINH TRIẾT
    Giáo sư TRẦN KIM THẠCH
    PGS.

    TRẦN ĐÌNH BÚT

    Tiến sĩ NGUYỄN THIỆN TỐNG
    PTS.

    HUỲNH NHƯ PHƯƠNG

    PTS.

    QUÁCH THU NGUYỆT




    Thư kí biên tập

    PTS. LÊ NGỌC THANH - THẢO NGỌC
    2

    ANH VIỆT - QUANG TOÀN

    KHOA HỌC:
    NGHỊCH LÝ, NGHỊCH LÝ...

    NHÀ XUẤT BẢN TRẺ
    3

    4

    LỜI NÓI ĐẦU
    Khoa học không hề khô khan mà chính là sự sống, với đầy
    rẫy những điều trái khoáy, éo le... Chính những nghịch lý, những
    tư duy mới, những con người dũng cảm đang thúc đẩy khoa học
    và xã hội loài người đi lên.
    Đó là nội dung cuốn sách bổ ích này. Bạn sẽ tìm thấy trong
    sách vô số những giai thoại khoa học thú vị mà qua đó bạn sẽ
    hiểu sâu hơn nhiều điều. Nếu bạn yêu khoa học, cuốn sách sẽ
    củng cố thêm tình yêu này của bạn. Nhưng đây cũng có thể xem
    là một cuốn sách về triết học, về nhận thức... rất cần thiết cho
    sự nghiệp khoa học của bạn, bất kể bạn đang học tập và công
    tác trong lĩnh vực nào. Đặc biệt đối với giáo viên, cuốn sách
    sẽ cung cấp những "chất liệu minh họa" lý thú, giúp cho không
    khí lớp học luôn sinh động.
    Kinh tế tri thức đòi hỏi tư duy và nhiều sáng tạo. Hy vọng
    rằng cuốn sách sẽ là nguồn động viên để bạn trẻ yêu khoa học
    có thêm được bản lĩnh trong sự nghiệp của mình.
    nhà xuất bản trẻ
    5

    6

    Chương I

    Nghịch lý là bạn của thiên tài
    Nghịch lý và ngụy biện

    Trước khi đi vào nội dung chính của cuốn sách lý thú này, có lẽ
    chúng ta nên dành ít thời gian để tìm hiểu bản thân từ “nghịch lý”.
    Người ta thường hiểu nó như là những sai quấy và thuẫn nghịch
    trong nhận thức, dường như đi ngược lại với logic thông thường. Trong
    tiếng Anh (và nhiều tiếng Âu châu khác), từ “paradox” (nghịch lý)
    mang tiếp tố “para-” có nghĩa là “áng chừng”, “lân cận”, “không hẳn”.
    Cho nên “paradox” ám chỉ một sự “mờ mờ ảo ảo” về một mâu thuẫn
    nào đó trong nhận thức mà chúng ta chưa “giải mã” được.
    Nhưng, hãy coi chừng! Cũng có cả những “nghịch lý bịp”, tức
    những “nghịch lý” sử dụng độ dẻo của cái lưỡi, độ uyển chuyển
    của các khái niệm để “gài” người khác. Bạn sẽ hỏi “tại sao có sự
    uyển chuyển này?”. Ấy là vì nhận thức của chúng ta luôn phản ánh
    những sự vật biến chuyển, và những sự vật ấy ta muốn “bình” thế
    nào cũng được. Nhà triết học Hy Lạp thời cổ đại Héraclite (550-480
    trước công nguyên) đã từng nói một câu bất hủ: “Không thể bước
    vào cùng một dòng sông hai lần”. Thật vậy, khi ta bước vào con
    sông lần thứ hai thì dòng nước đã khác đi, nào phải là dòng nước cũ.
    7

    Thế mà Cratinos, học trò của Héraclite, lại còn “siêu” hơn cả thầy.
    Ông đã phát triển “chân lý” của Héraclite như sau: “Thậm chí không
    thể bước vào cùng một dòng sông một lần”, bởi lẽ trong khi ta đang
    bước vào thì dòng sông đã thay đổi. Chính vì vậy mà Cratinos đã
    gợi ý không đặt tên cho bất cứ sự vật gì, mà chỉ nên dùng ngón tay
    để chỉ trỏ mà thôi.. bởi lẽ trong khi ta phát âm tên của sự vật đó thì
    nó có thể đã chẳng còn là nó nữa.
    Bởi thế đã xuất hiện nhiều cách “chơi chữ”, mà thực chất là sự
    “bóp méo nhận thức về các sự việc luôn biến động”. Chúng ta gọi
    những kẻ ưa dùng “thủ pháp” này là những tay “ngụy biện”. Aristote,
    một triết gia cổ Hy Lạp nổi tiếng khác (384-322 trước công nguyên),
    đã gọi những kẻ ngụy biện đó là “các nhà thông thái dỏm”. Chúng ta
    hãy thử suy ngẫm một mẩu đối thoại sau đây:
    “- Này, cậu có biết tớ muốn nói gì với cậu không?
    - Không!
    - Thế cậu có biết rằng ở hiền thì gặp lành không?
    - Biết!
    - Đó là điều mà tớ muốn nói với cậu”
    Những kẻ ngụy biện sẽ dựa vào mẩu đối thoại trên để kết luận
    rằng người ta có thể không biết những điều mà người ta biết rất rõ.
    Có buồn cười không hả các bạn?
    Sau đây là một câu chuyện còn “oái oăm” hơn nữa:
    Evalt theo triết gia Protagoras học về thuật ngụy biện. Thấy Evalt
    nghèo rách, không có tiền, Protagoras ra điều kiện như sau: Evalt
    phải trả tiền học khi nào dùng thuật ngụy biện thắng kiện lần đầu
    tiên. Evalt bèn “OK” và tận tâm theo thầy “học nghề”. Thời gian trôi
    8

    qua, Evalt ra trường, và tuy chưa thắng kiện lần nào, đã tuyên bố ầm
    ĩ rằng sẽ không trả một xu nào cho “sư phụ” Protagoras. Thấy “môn
    sinh khả ố” của mình quá ư lỗ mãng và đồng thời hiểu rằng mình bị
    “xù”, Protagoras quyết định chấm dứt tình thầy trò bằng cách kiện
    Evalt ra tòa. Nhưng Protagoras không ngờ rằng Evalt đã qua mặt cả
    thầy trong thuật ngụy biện: các quan tòa đã phải bó tay, không móc
    túi của Evalt được đồng nào. Bởi lẽ, nếu xử Evalt phải trả tiền tức là
    xử hắn thua. Và vì hắn chưa thắng kiện lần nào nên, theo thỏa thuận
    với Protagoras, hắn chưa phải trả tiền. Còn nếu xử hắn khỏi trả tiền
    thì tức là hắn đã thắng kiện, mà nếu vậy thì, theo thỏa thuận với ông
    thầy, hắn lại phải trả tiền. Trước mắt, Evalt cứ ì ra với tuyên bố “xù
    độ” ông thầy. Và chẳng ai làm gì được hắn.
    Trong sinh viên Anh có một bài vè như sau, cũng là một điển hình
    của thuật ngụy biện:
    Vè biếng học:
    “Càng học nhiều thì ta càng biết nhiều
    Càng biết nhiều thì ta càng quên nhiều
    Càng quên nhiều thì ta càng biết ít
    Càng ít biết thì ta càng ít quên
    Càng ít quên thì ta càng biết nhiều
    Vậy học làm gì, anh em ta ơi?”
    Tuy nhiên, có lẽ đã đến lúc chúng ta quay trở về với những nghịch
    lý thực thụ. Tiếp tố “para-” cũng còn một nghĩa khác là “trái ngược”,
    “ngang trái”. Còn “dox” thì có nghĩa là “tri thức”. “Paradox” do đó
    có thể hiểu là một kết quả bất ngờ, đối nghịch sâu sắc với nhận thức
    thông thường.
    9

    Nhưng nghịch lý bản thân nó không phải là một sự “sai quấy”
    hay “nghịch thuẫn”, nó chỉ “nghịch thuẫn” với những kết quả suy
    ra từ logic thông thường mà thôi. Vả lại, nghịch lý luôn là cái gì đó
    khách quan, chẳng thể nào phát sinh từ việc bóp méo sự vật, múa máy
    ngôn từ như trong thuật ngụy biện. Nó phản ánh một điều gì đó sâu
    xa hơn, những bí mật còn đang tiềm ẩn, chờ được phát hiện. Chúng
    ta sẽ tìm hiểu về nó trong các mục tiếp theo. Tạm thời, hãy biết rằng:
    với ngụy biện thì có thể đổi trắng thay đen thế nào cũng được, nhưng
    với nghịch lý thì không thể như thế.
    Tôi nói dối tức là tôi nói thật

    Có lẽ chúng ta sẽ rất ngạc nhiên khi biết rằng nghịch lý thể hiện rõ
    nét nhất trong các môn khoa học chính xác và logic nhất là toán học
    và logic học. Chính vì vậy mà chúng ta sẽ bắt đầu bằng việc nghiên
    cứu các nghịch lý trong hai môn khoa học này.
    Sự lạ lùng của các nghịch lý là ở chỗ chúng thể hiện sự mâu thuẫn
    nội tại của các tình huống. Ví dụ, từ một xuất phát điểm khoa học,
    người ta rút ra (một cách hết sức logic) hai kết luận có tính loại trừ
    lẫn nhau (tức kết luận này đúng thì kết luận kia phải sai). Người ta
    gọi các nghịch lý dạng này là “nghịch lý logic” vì nó tuân thủ những
    trật tự logic nghiêm ngặt.
    Chúng ta hãy bắt đầu bằng một trong những nghịch lý cổ xưa nhất
    mà đến nay vẫn còn nguyên tính “thời sự”. Các nhà triết học cổ đại
    gọi nghịch lý này là “nghịch lý về lời nói dối”. Mong độc giả hãy bỏ
    lỗi cho chúng tôi vì đã trích dẫn người xưa quá nhiều. Nhưng họ xứng
    đáng được nhắc đến. Một trong những nhà toán học lỗi lạc nhất của
    10

    thế kỷ chúng ta, giáo sư người Anh, Leadwood, đã từng viết như sau:
    “Người cổ Hy Lạp là các đồng nghiệp thông thái của chúng ta ở một
    thế giới tri thức khác...”
    Nhưng thôi, hãy trở lại với “nghịch lý về lời nói dối”. Nếu một
    anh chàng nào đó bỗng dưng mở miệng tuyên bố: “Tôi nói dối!”, thì
    theo bạn, anh ta nói dối hay nói thật? Rõ ràng là anh ta đã nói dối, vì
    chính anh ta đã thú nhận như thế kia mà! Nhưng nếu anh ta nói dối
    rằng mình nói dối thì có nghĩa là điều anh ta nói phải là sự thật, vậy
    tức là anh ta nói thật.
    Suốt lịch sử logic của loài người, “nghịch lý về lời nói dối này” đã
    được trình bày dưới nhiều cách khác nhau. Sau đây, chúng tôi xin giới
    thiệu một cách trình bày, còn gọi là “nghịch lý Efbulid”. Epimenid
    là một tín đồ Cơ đốc giáo và ông đã tuyên bố một câu “xanh rờn”
    như sau: “Tất cả các con chiên Cơ đốc giáo đều nói dối!”. Nhưng vì
    Epimenid là con chiên đạo Cơ đốc, nên ông cũng tự cho mình là kẻ
    nói dối. Mà nếu như ông đã nói dối thì có nghĩa là tuyên bố của ông
    sai hoàn toàn. Như vậy thì các con chiên Cơ đốc giáo không nói dối.
    Nhưng Epimenid là con chiên Cơ đốc nên ông cũng không nói dối
    nốt, do đó tuyên bố của ông là sự thật.
    Thế là, bằng một logic chặt chẽ, chúng ta đã đi đến hai chân lý phủ
    nhận lẫn nhau: một nói rằng “Tất cả con chiên Cơ đốc đều nói dối!”
    là đúng; và một khẳng định rằng mệnh đề trên là sai. Nhưng đây cũng
    không phải là ngụy biện vì nó không có dụng ý, hay thủ thuật “gài”
    nào. Vậy thì chân lý là ở đâu?
    Cái nghịch lý đơn giản, tưởng như trò trẻ con đó đã làm hao tổn
    biết bao chất xám, hết đời này sang đời khác nhằm giải thích nó.
    11

    Ví dụ, đã có người đặt vấn đề: “Tại sao chúng ta cứ phải nghĩ rằng
    Epimenid luôn luôn nói thật? Những người được đánh giá là chân
    thật có nhất thiết lúc nào cũng chỉ nói thật hay không? Trên thực tế,
    thật giả luôn lẫn lộn, nên không thể nào có người “chỉ nói thật” và
    có người “chỉ nói dối”.
    Thế nhưng, tình huống ở đây không đơn giản như vậy. Lối đặt
    vấn đề “mập mờ trắng đen” như thế đã không được chấp nhận trên
    quan điểm thuần túy logic. Và không phải ngẫu nhiên mà “nghịch lý
    về lời nói dối” đã gây ra khá nhiều “thảm họa” trong lịch sử. Truyền
    thuyết kể rằng nhà triết học cổ Hy Lạp Kronos chỉ vì không giải được
    nghịch lý này nên đã phát uất lên mà chết. Một triết gia khác là Fillip
    Kossky cũng đã vì thế mà tự kết liễu cuộc đời mình.
    Kể từ đó, “nghịch lý về lời nói dối” luôn ám ảnh tâm trí của nhiều
    thời đại. Nó có thể “thay hình đổi dạng”, mang một hình thức mới,
    những “bộ áo” mới, nhưng bản chất vẫn không hề thay đổi. Thế kỷ
    19 và đầu thế kỷ 20 đã chứng kiến một đợt sóng quan tâm mới đối
    với nghịch lý này, cũng như những nghịch lý khác nảy sinh trong
    toán học. Lần này, loài người đã được trang bị một căn bản toán học
    và triết học khá vững chắc...
    Với logic nghiêm ngặt, người ta phát hiện ra nhiều điều mâu thuẫn,
    nhiều kết luận bất ngờ. Có thể lấy ví dụ về cái gọi là “trạng thái không
    cổ điển”, một hiện tượng mà nền khoa học thời bấy giờ không tài nào
    giải thích được: một vật thể khi chuyển động thì, ở mỗi thời điểm,
    phải đồng thời có mặt tại một điểm nào đó đồng thời có mặt tại một
    điểm khác. Bởi lẽ, nếu nó chỉ nằm tại một điểm mà thôi thì có nghĩa
    là nó dừng lại ở đó, tức nó đứng yên chứ không phải chuyển động.
    12

    Sự phát hiện hạt electron điện tử cũng không kém phần “nghịch
    lý”. Chúng ta hãy xem xét hiện tượng giao thoa sóng, tức hiện tượng
    giao nhau của các sóng có cùng chu kỳ, khiến biên độ sóng dao động
    mạnh yếu khác nhau. Sóng ánh sáng khi đó sẽ cho một hình ảnh giao
    thoa dưới dạng các dải sáng và tối xen kẽ nhau. Khi tiến hành thí
    nghiệm giao thoa electron, người ta đặt trên đường đi của nó một vật
    chắn có hai lỗ. Đi xuyên qua hai lỗ này, electron rơi lên một màn hình
    và cho ta một hình ảnh giao thoa tiêu biểu. Bây giờ, bạn hãy thử trả
    lời câu hỏi: electron đã đi qua lỗ nào trong hai lỗ của vật chắn? Chỉ
    cần bạn che một lỗ lại, hình ảnh giao thoa sẽ biến mất. Bỏ tay ra, nó
    lại hiện lên rõ ràng.
    Thí nghiệm này chứng tỏ electron đã đồng thời đi qua hai lỗ. Nhưng
    làm thế nào có thể cùng một lúc nằm ở hai điểm khác nhau, tức chiếm
    những thể tích không gian khác nhau? Để giải thích tình huống nghịch
    lý này, cơ học lượng tử đã sử dụng lý thuyết xác suất và không hề nói
    rõ electron đi qua lỗ nào. Nó chỉ kết luận rằng electron đi qua một lỗ
    với xác suất cao hơn qua lỗ còn lại.
    Bạn thấy đó! nghịch lý đã xuất hiện khi các kết quả thí nghiệm tỏ
    ra mâu thuẫn với quan điểm khoa học đương thời. Tất nhiên, người
    ta có thể đổ cho thí nghiệm là “sai” nếu như nó “không phù hợp” với
    quan điểm khoa học đang thống trị. Lịch sử cũng đã cho thấy rằng
    chân lý thường không dễ gì được nhìn nhận ngay tức khắc. Chính vì
    vậy ta sẽ thấy nảy sinh một nghịch lý khác thường xảy ra: cả một nền
    khoa học dày dạn và “đáng kính” hoàn toàn bất lực, không thể nào
    giải thích được một hiện tượng nhỏ nhoi. Tất nhiên, cái “hiện tượng
    nhỏ nhoi” đó chưa khiến cho người ta mất ăn mất ngủ... cho đến cái
    13

    ngày nó tích lũy nhiều dữ liệu và lý thuyết hơn, và trở nên một “vấn
    đề nghiêm trọng”.
    Điều này đã từng xảy ra, chẳng hạn vào thời kỳ khám phá hiện
    tượng phân rã phóng xạ. Cuối thế kỷ 19, nhà bác học Pháp Henri
    Becquerel (cháu nội của nhà vật lý lừng danh Antoine Becquerel) bắt
    tay vào tìm kiếm các tia bức xạ tương tự như tia Rơnghen phát hiện
    ra trước đó. Ông tiến hành nghiên cứu trên các vật chất phát quang.
    Các vật chất này, khi hấp thu một lượng năng lượng nhất định (ví dụ
    như năng lượng ánh sáng), sẽ chuyển sang trạng thái kích thích, phát
    ra năng lượng dư thừa và do đó mà sáng lên.
    Becquerel nghiên cứu tác động của vật chất phát quang này lên
    một đĩa ảnh, thông qua một vật chắn không trong suốt đối với ánh
    sáng khả kiến. Một lần nọ, trong khi làm việc với muối uran, ông tình
    cờ đặt lên đĩa ảnh một mẩu quặng uran. Và thế là một hiện tượng lý
    thú đã diễn ra: trên đĩa ảnh hiện lên những dấu vết, rõ ràng là do tác
    động của ánh sáng. Nhưng mẩu quặng lại không phát sáng khi rọi tia
    Rơnghen vào, do đó có thể loại trừ khả năng bức xạ ánh sáng của quặng
    tác động lên đĩa. Kiểm chứng lại, Becquerel thấy đúng là như vậy!
    Hiện tượng lạ này không thể dùng bất cứ lý thuyết nào để giải
    thích. Hơn nữa, để giải thích nó, phải cần đến những khái niệm mới,
    trái ngược với các khái niệm vững chắc đã hình thành trước đó, không
    chỉ trong ngành vật lý mà trong cả toàn bộ tri thức khoa học thời bấy
    giờ. chắc các bạn đã đoán ra: chúng ta đang nói về hiện tượng phân
    rã nguyên tử. Thế mà khoa học lúc bấy giờ lại cho rằng phân tử là
    “không thể phân chia”, một ý tưởng gần như có tính “tiền đề”: ngay
    từ thời cổ đại, các nhà bác học, khi phát hiện ra nguyên tử, đã đặt
    14

    tên cho nó là “atom” mà tiếng Hy Lạp có nghĩa là “không chia cắt”.
    Ý tưởng này suốt bao thế kỷ sau đó đã trở thành căn bản của thế giới
    quan khoa học. Bác bỏ nó đồng nghĩa với việc phá vỡ một “nền tảng
    thiên niên kỷ”.
    Chúng ta sẽ còn có dịp xem xét các nghịch lý dưới nhiều biểu hiện
    khác nhau. Nhưng tất cả các nghịch lý đều có cùng một đặc điểm:
    chúng tạo ra những mâu thuẫn sâu sắc trong nhận thức, trở thành một
    vết rạn, sau đó phá toang những ý niệm cũ. Chính vì vậy mà việc phát
    hiện nghịch lý chỉ mới là bước đầu tiên và đơn giản nhất. Giải quyết
    nó mới là cả một vấn đề!
    Ai càng vô lý, càng tài hoa

    Có một điều sau đây thiết nghĩ chúng ta khỏi phải bàn cãi: một
    nghịch lý càng sâu xa, bất ngờ và kỳ lạ thì ý tưởng để giải quyết nó
    cũng phải có chiều sâu, bất ngờ và kỳ quái chẳng kém. Nói cách khác,
    lý thuyết mới để “cứu vãn” khoa học khỏi một nghịch lý bản thân nó
    phải tỏ ra cực kỳ... nghịch lý.
    Bởi lẽ nó phải phá vỡ, bác bỏ những ý niệm thông thường. Nguyên
    lý phủ định trong triết học biện chứng tỏ ra cực kỳ đúng đắn. Các
    bạn có thể tin rằng cái tinh thần mà người Đức gọi là “Leist der Stets
    verneint” (tinh thần phủ nhận tất cả) chính là nền tảng của sự sáng
    tạo khoa học. Một lần nọ, người ta hỏi Albert Einstein làm cách nào
    ông khám phá ra thuyết tương đối. Nhà bác học vĩ đại này đã ung
    dung trả lời: “Tôi bác bỏ các định đề”. Einstein muốn nói rằng ông
    đã không chấp nhận những “chân lý không thể tranh cãi”, ví dụ nếu
    có hai thời điểm khác nhau thì bắt buộc phải có một thời điểm đến
    15

    trước thời điểm kia. Tương tự là khi nhà thiên văn học lừng danh
    người Ba Lan Nicolas Copernic (1473-1543) kiên quyết bác bỏ định
    đề cho rằng Mặt trời phải quay quanh Trái đất. Tương tự nữa là khi
    nhà toán học Nga Lobatchevsky (1792-1856) bác bỏ định đề về các
    đường thẳng song song không bao giờ cắt nhau, vốn đã có bề dày
    lịch sử hàng ngàn năm.
    Bác bỏ các định đề rõ ràng là cần thiết rồi. Nếu không dám đi ngược
    lại các chân lý “đáng kính” thì thử hỏi lấy đâu ra những ý tưởng mới,
    những tiến bộ mới? Thiên tài do vậy thường là kẻ phá vỡ một “lề lối”,
    một “khuôn mẫu tri thức” nào đó... và vì thế mà họ thường bị xem là
    “vô lối”, “vô tri”, “mất căn bản”. Nhưng họ lại chính là “những kẻ
    phá bĩnh sáng tạo”, và sự “mất căn bản” của họ thật ra cũng chỉ là sự
    “không lệ thuộc vào căn bản”.
    Chính từ sự phủ định không ngừng này mà khoa học đã tiến lên,
    nhưng sự phủ định đó cũng đã khiến không ít nhà bác học phải trả
    giá đắt. Đó là số phận của một nhân vật nổi tiếng đã từng đưa ra ý
    tưởng cách mạng về sự quay của Trái đất: Galileo Galilée (15641642), nhà vật lý, thiên văn kiêm nhà văn người Ý đã bị nhà thờ
    làm tình làm tội vì những khái niệm “trái ngược với kinh thánh”
    mà ông đưa ra. Nhà thơ người Nga nổi tiếng E. Eftusenkô đã từng
    viết về ông như sau:
    ...“Các linh mục nói rằng ông phá bĩnh,
    Và rằng ông vô lý, hỡi Galilée.
    Nhưng thời gian đã trả lời cho ta
    Ai càng vô lý, càng tài hoa”...
    ("Công danh")
    16

    Về trường hợp này, chúng ta cũng có thể liên tưởng đến một câu
    thơ của Nguyễn Du: “Chữ tài liền với chữ tai một vần”.
    Tính nghịch lý của các ý tưởng cách mạng thể hiện ở chỗ nó
    hầu như lúc nào cũng “thiếu logic”, nói đúng hơn là không tuân
    thủ các nguyên tắc logic đương thời. Thiên tài do đó thường là kẻ
    “tội phạm logic”, dám đi ngược lại cả một ý thức hệ khoa học đang
    thống trị. Rất nhiều định luật mà ngày nay chúng ta xem là “khỏi
    tranh cãi” đã từng đi qua con đường gập ghềnh như thế. Dưới đây
    chỉ là một vài ví dụ:
    - Các vật nặng không rơi nhanh hơn các vật nhẹ.
    - Nhiệt là sự chuyển động.
    - Sốt rét là do muỗi truyền.
    Thậm chí giờ đây các bạn sẽ lấy làm ngạc nhiên vì sao những điều
    hiển hiện như thế lại không được thừa nhận trước đây.
    Đã có vô số chuyện như thế xảy ra trong lịch sử phát minh. Ví
    dụ, thoạt đầu người ta không thể tin nổi rằng có thể dùng điện để
    thắp sáng. Các cụ cố của chúng ta hẳn đã từng không tin rằng âm
    thanh, hình ảnh có thể ghi lại, truyền đi và phát trên máy truyền
    hình. Và hẳn rằng cách đây hơn chục năm, nhiều người trong chúng
    ta chẳng thể nào tin nổi chiếc máy vi tính xâm nhập và thay đổi sâu
    sắc cuộc sống của chúng ta như thế (đến mức một trục trặc nhỏ, gọi
    là sự số Y2K, cũng đã khiến thế giới tốn kém đến 600 tỉ đôla Mỹ).
    Đã đành là những sản phẩm mới bị xem là “vô lý” khi còn ở giai đoạn
    “ý tưởng”, nhưng điều đáng nói là ngay cả khi nó đã được thử
    nghiệm thành công và thậm chí xuất hiện trên thị trường, sản phẩm
    17

    mới vẫn cứ bị chống đối... cho đến khi sự chống đối đó yếu dần
    và thay bằng sự thừa nhận mặc nhiên. Chúng ta hẳn còn nhớ cách
    đây không lâu Internet vẫn còn là một phương tiện bị phê phán
    rất gay gắt. Một số người cho rằng nó là phương tiện truyền bá
    văn hóa đồi trụy, phương tiện “xâm lược văn hóa”. Số khác cho
    rằng nó làm tăng thêm sự bất bình đẳng giàu - nghèo, tạo ra sự “cô
    đơn” trong xã hội loài người, v.v... và v.v... Thế nhưng, Internet
    vẫn tồn tại, ngày càng mở rộng, thậm chí cả ở những nước dè dặt
    nhất. Chúng ta hẳn cũng chưa quên làn sóng phẫn nộ khi diễn ra
    vụ nhân bản vô tính cừu Dolly. Báo chí rùm beng về khả năng
    tạo “bản sao con người”, và thậm chí đã có những quyết định cấp
    quốc gia để hạn chế sử dụng kỹ thuật này, hay cấm áp dụng nó
    trên người (như ở Mỹ). Thế nhưng, hãy tin rằng phát minh này sẽ
    vẫn tồn tại, và trong tương lai sẽ làm cuộc cách mạng rất lớn trong
    kỹ thuật nông nghiệp.
    Tuy nhiên, công bằng mà nói, những kẻ chống lại cái mới không
    phải lúc nào cũng thiếu cơ sở, ngược lại là đằng khác. Cái mới càng
    kiên quyết muốn đè bẹp cái cũ thì cái cũ sẽ càng ra sức chứng tỏ mình
    logic và có cơ sở. nhưng chúng ta cũng phải dứt khoát với điều này:
    nếu như không mạnh dạn dẹp bỏ những ý tưởng cũ, dựa trên các kinh
    nghiệm cũ, thì sẽ khó lòng có phát minh nào đáng kể, và chúng ta sẽ
    chẳng thể nhúc nhích lên phía trước. Mà những trạng thái mới của
    khoa học rất khó đạt được bằng con đường “chứng minh và suy luận
    hợp lý”. Cái mới chỉ có thể đạt được thông qua những “bước ngoặt
    nguy hiểm”, đi ngược lại với tư duy thông thường. Chính bằng những
    “bước nhảy bất hợp lý” này mà các nhà bác học sẽ phá vỡ những trật
    tự cứng nhắc của tư duy.
    18

    Chúng ta, ai cũng thế, đều có xu hướng khó chấp nhận những ý
    tưởng nghịch lý. Và, đối với nhiều người, thời kỳ kháng cụ có thể
    sẽ kéo dài rất lâu. Nhưng ý tưởng mới có thể cuối cùng sẽ chiến
    thắng, được thừa nhận rộng rãi, thậm chí được đưa cả vào sách giáo
    khoa. Thế nhưng, ngay khi đó, ý tưởng mới vẫn tiếp tục chiếm một
    “vị trí đặc biệt”: người ta thừa nhận nó nhưng không hiểu nó. Xin
    nêu một ví dụ: một trong những nhà vật lý người Mỹ vĩ đại nhất
    thời cận đại là Richard Feynman (1918-1988) đã tuyên bố một câu
    như sau: “Tôi có thể mạnh dạn nói rằng, không ai trên thế giới
    này hiểu về cơ học lượng tử”. Nên nhớ rằng Feynman đã nói câu
    này sau khi cơ học lượng tử được nhìn nhận hơn một nửa thế kỷ.
    Cho nên, bạn hãy đừng ngạc nhiên nếu có người nói với bạn rằng:
    “Cơ học lượng tử không thể nào hiểu được đâu, anh (chị) chỉ có
    thể tập cho quen với sự hiện diện của nó mà thôi”. Tiện thể, xin
    nhắc nhở các bạn câu nói bất hủ của nhà thơ thiên tài người Anh
    Gordon Bairon (1788-1824): “Hỡi nhà bác học, ông dạy cho chúng
    tôi khoa học, nhưng lấy ai giải thích cho chúng tôi lời giảng dạy
    của ông”. Người xưa quả là thâm thúy.
    Nền khoa học lớn từ nhiều năm nay đã đụng phải nhiều ý tưởng
    “bất thường”, “điên rồ”, nói cụ thể hơn là các lý thuyết nghịch lý.
    Khoảng cuối thập niên 1950, nhà vật lý lừng danh người Đan Mạch
    Niels Bohr (1885-1962), sau khi nghe thuyết trình của hai nhà vật lý
    lừng lẫy khác là Werner Heisenberg (901-1976) và Wolfgang Pauli
    (1900-1958), đã nhận xét như sau: “Tất cả chúng tôi đều nhất trí
    rằng lý thuyết của các ông là điên rồ. Vấn đề mà chúng tôi còn chưa
    thống nhất là không biết nó có đủ mức điên rồ để có cơ may là chân
    lý hay không”.
    19

    Một tạp chí khoa học của Mỹ, tờ “Niên giám vật lý” (Physics
    chronicle), đã có một ý tưởng rất độc đáo để moi ra những nghịch lý.
    Nó thường cho in những bài viết có tính thách đố đối với nền tảng
    khoa học. Nhưng điều sau đây mới thực sự là lý thú. Ban biên tập
    tạp chí đã trung thành với nguyên tắc kỳ lạ như sau: các bài viết gửi
    đến sẽ bị loại không phải vì nó có nội dung quá khó hiểu mà là vì
    nội dung của nó quá dễ hiểu (tiện thể xin nói rằng điều này đi ngược
    hoàn toàn với nguyên tắc báo chí).
    Khi mới vừa lấp ló xuất hiện, các phát minh lớn thường nằm dưới
    dạng những ý tưởng hỗn độn, rời rạc. Ngay cả người đề xuất ra nó
    giỏi lắm cũng chỉ hiểu chừng 50%, người khác chẳng hiểu gì là lẽ
    thường tình. Chính vì vậy mà phát minh mới thường mang dáng
    dấp “điên rồ”, và hầu như chẳng có cơ may nào để thành công. Tờ
    “Niên giám vật lý” hẳn đã tính toán điều này. Thế nhưng, nguyên
    tắc làm việc kỳ quái này bản thân nó lại đẻ ra một nghịch lý khác:
    để quyết định có nên đăng hay không các bài báo gửi đến, Ban biên
    tập cần phải đọc và hiểu chúng, và vì vậy họ đòi hỏi các bài báo
    phải được trình bày theo những định luật khoa học đã được thừa
    nhận. Nhưng thử hỏi làm sao ý tưởng mới có thể xuất hiện trong
    những điều kiện như thế? Vì vậy mà ý tưởng của tờ “Niên giám vật
    lý” đã phá sản thảm hại.
    Về vấn đề này thì nhà sinh lý học nổi tiếng, Viện sĩ Viện Hàn lâm
    Liên Xô (cũ) P. Anôkhin từng nêu một nguyên tắc như sau: “Nếu
    một công trình nghiên cứu không hoàn toàn vô lý thì vẫn có thể cho
    in”. Còn giáo sư L. Sapôgin thì đề nghị cho phép các tiến sĩ khoa học
    được quyền đăng một bài báo “vô nghĩa lý” một lần mỗi 10 - 15 năm.
    20

    Những câu chuyện nêu trên cho thấy những “cái đầu lớn” luôn ý
    thức rất rõ vai trò của các nghịch lý. Nhà văn Đức W. Goethe (17491832) đã từng nhận xét rằng: “Mỗi khi xuất hiện một ý tưởng độc
    đáo, thì luôn luôn đi kèm với nó là một hiện tượng làm sửng sốt thế
    giới”. Khoa học luôn tiến lên theo số lượng và chiều sâu của các
    nghịch lý mà nó mở ra và giải quyết. Cho nên, sẽ rất đáng buồn nếu
    một ngành khoa học nào đó tỏ ra bình lặng, êm ả: đó chính là dấu
    hiệu của sự không phát triển. Trong ngành tin học hiện nay, chúng
    ta thấy một không khí rất sôi động. Hầu như cứ một vài năm là lại
    có một sản phẩm mới, một thế hệ phần cứng hay phần mềm mới ra
    đời. Và sản phẩm mới hầu như luôn luôn có tính phủ nhận sản phẩm
    cũ. Đó chính là dấu hiệu của một ngành công nghiệp đang bùng nổ,
    đi lên, các bạn có đồng ý vậy không?
    Xin lỗi ngài, Newton!

    Điều đơn giản và dễ hiểu nhất luôn luôn là điều đã phát hiện
    ra hôm qua; điều phức tạp và mù mờ nhất là điều sẽ khám phá
    ngày mai. Suốt bao đời nay người ta nghiên cứu và học tập cũng
    chỉ để tiến xa hơn, đi đến những giới hạn mới chưa từng gặp,
    những tri thức chưa từng biết. Khoa học dường như tự đặt ra một
    mục tiêu là tìm ra không mệt mỏi những chân lý mới: “Nếu như
    trong hoàn vũ còn có điều gì chưa rõ ràng thì một ngày nào đó
    chúng ta sẽ hiểu nó”. Quả thật, các nhà khoa học đang từng ngày
    khẳng định với chúng ta rằng bất cứ hiện tượng hay quá trình
    nào, dù phức tạp và khó hiểu cách mấy, sớm muộn gì rồi cũng
    sẽ được làm sáng tỏ.
    21

    Thế nhưng, vừa biến được những điều khó hiểu thành dễ hiểu,
    chúng ta đã lại lao đầu vào những cuộc tìm kiếm mới. Cho nên,
    điều mà ở thời điểm hiện thời được xem là nghịch lý thì theo thời
    gian sẽ không còn làm bận tâm nữa, thậm chí được xem là một
    “chuẩn mực”. Thay vào đó, sẽ xuất hiện những mâu thuẫn mới,
    những nghịch lý mới.
    Lý thuyết vạn vật hấp dẫn của nhà bác học thiên tài người Anh
    Isaac Newton (1642-1727) lúc đầu đã từng bị phê phán là “quá mù
    mờ”, thậm chí “quá tăm tối”. Thế nhưng, sau đó (khi nó đã được thừa
    nhận), bất cứ ai dám phê phán nó lại bị xem là “u tối”, “lạc hậu”. Lý
    thuyết của Newton trở thành “kinh điển”, được đưa vào sách giáo
    khoa, và chẳng ai còn mảy may nghi ngờ gì nó nữa. Người ta không
    bàn luận về tính xác thực của nó mà chỉ tìm xem nó áp dụng rộng rãi
    đến mức nào.
    Nhưng thời thế rồi cũng đổi thay. Khoa học không thể dậm chân
    tại chỗ hoài hoài.
    Đến một thời điểm, cơ học Newton đã vấp phải một bài toán
    hóc búa: giải thích bản chất khó hiểu của thuyết tương đối. Albert
    Einstein (1879-1955), cha đẻ của thuyết này, là một hiện tượng hiếm
    thấy trong lịch sử khoa học. Một số nhà khoa học đã cho rằng sự xuất
    hiện thuyết tương đối là sự “tình cờ”. Một sự kiện khá lý thú sau đây
    cho thấy người đương thời của Einstein thoạt đầu đã suy nghĩ như
    thế nào. Năm 1923, một nhà kinh tế người Canada đã hỏi nhà vật
    lý người Anh Rutherford nghĩ gì về thuyết tương đối. Rutherford
    trả lời: “Vớ vẩn! Công việc của chúng tôi không cần loại lý thuyết
    đó”. Cũng cần nhắc lại rằng câu nói này đã được phát biểu vào lúc
    22

    mà thuyết tương đối đã có vị thế khá vững chắc, và Rutherford cũng
    chẳng phải là “lính mới tò te” trong làng vật lý: ông là một nhà bác
    học nổi tiếng toàn cầu, từng được chính phủ Anh phong huân tước
    vì thành tích khoa học.
    Vì vậy chúng ta có thể hoàn toàn thông cảm cho Einstein khi ông
    nhận ra rằng những ý tưởng của mình sẽ phá vỡ một kiến trúc tuyệt
    đẹp và thốt lên: “Xin lỗi ngài, Newton! Ngài đã tìm ra con đường duy
    nhất trong khuôn khổ thời đại của ngài để đưa loài người đến những
    tầm cao tư duy và sức mạnh sáng tạo chưa từng thấy”.
    Tất cả bắt đầu từ việc xác nhận tính bất biến của vận tốc ánh sáng.
    Các thí nghiệm ở Chicago của nhà vật lý người Mỹ Albert Michelson
    (1852-1931) cho thấy rằng ánh sáng chỉ di chuyển với một vận tốc
    duy nhất là 300.000 km/giây. Kết quả này trở thành một đám mây
    đen báo trước những cơn giông bão trong khoa học.
    Vấn đề là ở chỗ vận tốc ánh sáng được xem là vận tốc lớn nhất
    (thiên nhiên dường như luôn có những giới hạn như thế). Không
    một tín hiệu nào (ít ra là tất cả các tín hiệu mà ta biết đến nay) có
    thể lan truyền với vận tốc nhanh hơn ánh sáng. Mà vận tốc ánh
    sáng lại bất biến trong mọi hệ quy chiếu quán tính chuyển động
    thẳng đều. Điều này có nghĩa là cho dù vật thể di chuyển với tốc
    độ cao cách mấy thì ánh sáng do nó phát ra theo hướng chuyển
    động của nó sẽ vẫn không đổi, tức bằng 300.000 km/giây. Mọi rắc
    rối bắt đầu phát sinh từ đây.
    Xin mời các bạn hãy cùng chúng tôi tiến hành một thí nghiệm
    tưởng tượng như sau: Giả sử chúng ta có một tên lửa có thể bay với
    vận tốc gần bằng vận tốc ánh sáng, chẳng hạn như 299.000 km/giây.
    23

    Bây giờ ta đặt lên tên lửa này một thiết bị chiếu sáng và các đồng hồ
    đo thời gian, khoảng cách. Bây giờ ta hãy cho tên lửa này bay đến
    một hành tinh nào đó trong vũ trụ bao la. Khi nó đạt đến giới hạn vận
    tốc, ta cho thiết bị phát ra tia sáng theo cùng hướng bay với tên lửa.
    Và sau đây là những gì chúng ta nghiệm được:
    Đối với một người quan sát từ mặt đất, tín hiệu ánh sáng sẽ vượt
    lên khỏi tên lửa và di chuyển ở phía trước nó với vận tốc 300.000 km/
    giây, tức hầu như không cách tên lửa bao xa (1.000 km/giây). Nhưng
    nếu đem quy chiếu với tên lửa thì rõ ràng ánh sáng phải vượt hẳn lên
    trên 300.000 km mỗi giây mới phải chứ? Điều này xem chừng có vẻ
    “không tự nhiên” chút nào. Làm sao giải quyết mâu thuẫn này: tín
    hiệu ánh sáng dù là phát ra từ trái đất hay từ một tên lửa đang bay với
    vận tốc 299.000 km/giây đều bằng nhau!!!
    Cứ mỗi giây, ánh sáng đi 300.000 km. Ta hãy đánh dấu điểm này.
    Ngay tại đó, ít lâu sau ta thấy tên lửa đi ngang qua. Với người quan
    sát từ mặt đất, ánh sáng chỉ vượt lên khỏi tên lửa 1.000 km. Thế mà
    các đồng hồ trên tên lửa cho thấy rằng ánh sáng vượt trước tên lửa
    đến 300.000 km. Thí nghiệm tưởng tượng này vượt ra khỏi những ý
    niệm quen thuộc của chúng ta. Chỉ còn có cách lý giải như sau: các
    thiết bị trên tên lửa đã đo những giây, những kilômét khác với những
    giây và kilômét trên mặt đất.
    Để giải thích thí nghiệm kỳ lạ này, thuyết tương đối đã đưa ra hàng
    loạt cách giải quyết gây sửng sốt: đó là khái niệm mới về tính “đồng
    thời”; các hiệu ứng co độ dài và rút ngắn thời gian, đặc biệt ở các vật
    thể có vận tốc gần vận tốc ánh sáng; v.v... Hiệu ứng làm chậm lại thời
    gian là điều gây “sốc” nhất đối với dư luận.
    24

    Bây giờ, mời bạn làm thêm một thí nghiệm tưởng tượng thứ hai.
    Một lần nữa, hãy cho chiếc tên lửa nói trên lên đường. Ở hai bên thành
    đối diện của tên lửa phía bên trong, ta đặt một thiết bị phát sáng và một
    thiết bị thu sáng. Khi tên lửa - phi thuyền này đạt tốc độ cao nhất, phi
    hành đoàn bật tín hiệu sáng cho nó đi từ thành bên này sang thành đối
    diện. Đối với người quan sát bên trong tên lửa, ánh sáng đi một đoạn
    đường bằng bề rộng của tên lửa. Thế nhưng, đối với người quan sát bên
    ngoài, chẳng hạn như từ mặt đất, thì kết quả lại không giống vậy: tín
    hiệu sáng đi một đoạn bằng cạnh huyền của tam giác có một cạnh bằng
    đoạn đường mà tên lửa - phi thuyền đã đi được (cho đến lúc tín hiệu sáng
    đi đến hông bên kia) và cạnh kia là bề rộng của tên lửa - phi thuyền.
    Nhưng nếu vậy thì điều gì sẽ xảy ra? Thì ra là ánh sáng từ thành
    bên này sang thành bên kia củ...
     
    Gửi ý kiến

    Một cuốn sách hay giống như một người bạn tốt: bên ta khi cần và ở lại mãi trong tâm trí

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG THCS ĐỒNG LẠNG - HÀ TĨNH !