Sách nói Đảo Mộng Mơ - Nguyễn Nhật Ánh
Góc nhìn sử Việt tang Thương Ngẫu Lục

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 16h:43' 18-04-2024
Dung lượng: 1.1 MB
Số lượt tải: 3
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 16h:43' 18-04-2024
Dung lượng: 1.1 MB
Số lượt tải: 3
Số lượt thích:
0 người
Table of Contents
MỤC LỤC
LỜI GIỚI THIỆU
QUY CÁCH BIÊN TẬP
TIỂU DẪN
TIỂU TRUYỆN PHẠM ĐÌNH HỔ
TIỂU TRUYỆN NGUYỄN ÁN
TỰA
I.
II.
PHẦN I. TANG THƯƠNG NGẪU LỤC - QUYỂN THƯỢNG
THẦN TÔNG HOÀNG ĐẾ(13)
HIỂN TÔNG HOÀNG ĐẾ
CHUYỆN CŨ TRONG PHỦ CHÚA
ÔNG NGUYỄN DUY THÌ
HỒ GƯƠM
ÔNG NGUYỄN VĂN GIAI
NGƯỜI NÔNG PHU Ở NHƯ KINH
NGƯỜI NÔNG PHU Ở AN MÔ
MA ĐỒNG XUÂN
ÔNG NGUYỄN CÔNG HÃNG
ÔNG NGUYỄN BÁ DƯƠNG
QUẬN MÃ ĐẶNG LÂN
THÀNH ĐẠO TỬ
ÔNG LÊ THÌ HIẾN
ÔNG ĐỖ THẾ GIAI ÔNG HOÀNG NGŨ PHÚC
CHÙA TIÊN TÍCH
LIỆT PHỤ ĐOÀN PHU NHÂN
NGƯỜI LÀM MƯỚN Ở KINH THÀNH
ÔNG LÊ ANH TUẤN
ÔNG BÙI THẾ VINH
ÔNG NGUYỄN CÔNG HOÀN
ÔNG LÊ HỮU KIỀU
ÔNG NGUYỄN TRỌNG THƯỜNG
BÀI KÝ CHƠI NÚI PHẬT TÍCH - (CHÙA THẦY)
DẬT SỬ CỦA CỤ THÁI TỂ
ÔNG ĐÀM THẬN HUY
ÔNG LÊ TUẤN MẬU
ÔNG DƯƠNG BANG BẢN
ÔNG UÔNG SĨ ĐOAN
HÓA HỔ
ĐỨA CON ĐEN
HANG NÚI
ANH KẺ TRỘM LÀNG LÂM HỘ
ÔNG ĐỖ UÔNG
TƯỚNG QUÂN ĐOÀN THƯỢNG
SÔNG DÙNG
NÚI ĐÔNG LIỆT
NÚI RẾT
NỘI ĐẠO TRÀNG
BÀ VỢ THỨ ÔNG NGUYỄN KIỀU
PHẦN II. TANG THƯƠNG NGẪU LỤC - QUYỂN HẠ
ÔNG CHU VĂN TRINH
ÔNG LÊ TRÃI
ÔNG BÙI CẦM HỔ
THƠ MA
ÔNG PHẠM NGŨ LÃO
THI HỘI
MẢ MẸ ĐÀO KHẢN
CÁI MIẾU CỔ Ở CỬA ĐÔNG HOA
TƯỢNG GIÀ LAM Ở NGÔI CHÙA ĐỒNG
BIA NÚI THÀNH NAM
CỤ THÁI TỂ TÔI
SÔNG ĐỘC
MẢ TỔ QUẬN BẰNG
MIẾU THANH CẨM
DẬT SỰ CỦA ÔNG TIÊN HỌ PHẠM.
ÔNG ĐẶNG CHẤT
ÔNG NGUYỄN TÔNG KHUÊ
QUAN QUẬN LỘC Ở HÀM GIANG
TẢ AO TIÊN SINH.
THÀNH CŨ TRIỀU KHẨU
ÔNG VŨ DUỆ
ÔNG NGUYỄN VĂN GIAI(102)
MIẾU THUẦN DƯƠNG TỔ SƯ
NGƯỜI KHỔNG LỒ
ÔNG PHẠM ĐÌNH TRỌNG
CHÙA THIÊN MỤ
HỒ HOÀN KIẾM
CỬA KINH THÀNH
ÔNG HOÀNG SẦM
ÔNG ĐẶNG TRẦN CÔN
MẸ RANH CÀN SÁT
ĐỀN TRẤN VÕ
NÚI DỤC THÚY
MẢ TỔ HỌ NGUYỄN LÀNG QUẾ Ổ
ÔNG SẤM
ÔNG DƯƠNG CÔNG CAO
ÔNG NGUYỄN ĐĂNG CẢO
ÔNG BÙI HUY BÍCH
THÁP BÁO THIÊN
TIÊN QUẬN CHÚA
NGƯỜI BÁN THAN
II
III
I
II
III
IV
PHẠM TẤU
ÔNG VÕ CÔNG TRẤN
ÔNG NGUYỄN TRẬT
ÔNG VÕ SƯỞNG
CHUYẾT CÔNG THIỀN SƯ
ĐỀN LINH LANG
CHÙA KIM LIÊN
THÁNH TÔNG HOÀNG ĐẾ
THƠ ĐỀ SAU
TỦ SÁCH ALPHA DI SẢN - GÓC NHÌN SỬ VIỆT
MỤC LỤC
LỜI GIỚI THIỆU
QUY CÁCH BIÊN TẬP
TIỂU DẪN
TIỂU TRUYỆN PHẠM ĐÌNH HỔ
TIỂU TRUYỆN NGUYỄN ÁN
TỰA
PHẦN I. TANG THƯƠNG NGẪU LỤC - QUYỂN THƯỢNG
THẦN TÔNG HOÀNG ĐẾ
HIỂN TÔNG HOÀNG ĐẾ
CHUYỆN CŨ TRONG PHỦ CHÚA
ÔNG NGUYỄN DUY THÌ
HỒ GƯƠM
ÔNG NGUYỄN VĂN GIAI
NGƯỜI NÔNG PHU Ở NHƯ KINH
NGƯỜI NÔNG PHU Ở AN MÔ
MA ĐỒNG XUÂN
ÔNG NGUYỄN CÔNG HÃNG
ÔNG NGUYỄN BÁ DƯƠNG
QUẬN MÃ ĐẶNG LÂN
THÀNH ĐẠO TỬ
ÔNG LÊ THÌ HIẾN
ÔNG ĐỖ THẾ GIAI ÔNG HOÀNG NGŨ PHÚC
CHÙA TIÊN TÍCH
LIỆT PHỤ ĐOÀN PHU NHÂN
NGƯỜI LÀM MƯỚN Ở KINH THÀNH
ÔNG LÊ ANH TUẤN
ÔNG BÙI THẾ VINH
ÔNG NGUYỄN CÔNG HOÀN
ÔNG LÊ HỮU KIỀU
ÔNG NGUYỄN TRỌNG THƯỜNG
BÀI KÝ CHƠI NÚI PHẬT TÍCH - (CHÙA THẦY)
DẬT SỬ CỦA CỤ THÁI TỂ
ÔNG ĐÀM THẬN HUY
ÔNG LÊ TUẤN MẬU
ÔNG DƯƠNG BANG BẢN
ÔNG UÔNG SĨ ĐOAN
HÓA HỔ
ĐỨA CON ĐEN
HANG NÚI
ANH KẺ TRỘM LÀNG LÂM HỘ
ÔNG ĐỖ UÔNG
TƯỚNG QUÂN ĐOÀN THƯỢNG
SÔNG DÙNG
NÚI ĐÔNG LIỆT
NÚI RẾT
NỘI ĐẠO TRÀNG
BÀ VỢ THỨ ÔNG NGUYỄN KIỀU
PHẦN II. TANG THƯƠNG NGẪU LỤC - QUYỂN HẠ
ÔNG CHU VĂN TRINH
ÔNG LÊ TRÃI
ÔNG BÙI CẦM HỔ
THƠ MA
ÔNG PHẠM NGŨ LÃO
THI HỘI
MẢ MẸ ĐÀO KHẢN
CÁI MIẾU CỔ Ở CỬA ĐÔNG HOA
TƯỢNG GIÀ LAM Ở NGÔI CHÙA ĐỒNG
BIA NÚI THÀNH NAM
CỤ THÁI TỂ TÔI
SÔNG ĐỘC
MẢ TỔ QUẬN BẰNG
MIẾU THANH CẨM
DẬT SỰ CỦA ÔNG TIÊN HỌ PHẠM
ÔNG ĐẶNG CHẤT
ÔNG NGUYỄN TÔNG KHUÊ
QUAN QUẬN LỘC Ở HÀM GIANG
TẢ AO TIÊN SINH
THÀNH CŨ TRIỀU KHẨU
ÔNG VŨ DUỆ
ÔNG NGUYỄN VĂN GIAI
MIẾU THUẦN DƯƠNG TỔ SƯ
NGƯỜI KHỔNG LỒ
ÔNG PHẠM ĐÌNH TRỌNG
CHÙA THIÊN MỤ
HỒ HOÀN KIẾM
CỬA KINH THÀNH
ÔNG HOÀNG SẦM
ÔNG ĐẶNG TRẦN CÔN
MẸ RANH CÀN SÁT
ĐỀN TRẤN VÕ
NÚI DỤC THÚY
MẢ TỔ HỌ NGUYỄN LÀNG QUẾ Ổ
ÔNG SẤM
ÔNG DƯƠNG CÔNG CAO
ÔNG NGUYỄN ĐĂNG CẢO
ÔNG BÙI HUY BÍCH
THÁP BÁO THIÊN
TIÊN QUẬN CHÚA
NGƯỜI BÁN THAN
PHẠM TẤU
ÔNG VÕ CÔNG TRẤN
ÔNG NGUYỄN TRẬT
ÔNG VÕ SƯỞNG
CHUYẾT CÔNG THIỀN SƯ
ĐỀN LINH LANG
CHÙA KIM LIÊN
THÁNH TÔNG HOÀNG ĐẾ
THƠ ĐỀ SAU
TỦ SÁCH ALPHA DI SẢN - GÓC NHÌN SỬ VIỆT
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach
LỜI GIỚI THIỆU
Bạn đọc thân mến!
Lịch sử văn hóa của một dân tộc không phải của riêng cá nhân nào, chính vì vậy, việc bảo tồn,
gìn giữ và phát triển lịch sử văn hóa cũng không phải riêng một người nào có thể gánh vác
được, nó thuộc về nhận thức chung của toàn xã hội và vai trò của từng nhân tố trong mỗi
chặng đường lịch sử. Lịch sử là một khoa học. Lịch sử không phải là việc thống kê sự kiện một
cách khô khan rời rạc. Bởi mỗi sự kiện trong tiến trình đó đều có mối liên kết chặt chẽ với
nhau bằng sợi dây vô hình xuyên suốt không gian và thời gian tạo nên lịch sử của một dân tộc.
Dân tộc Việt Nam trải hơn một nghìn năm Bắc thuộc, gần trăm năm dưới ách cai trị của thực
dân, đế quốc, nhưng con cháu bà Trưng, bà Triệu, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi,
Quang Trung... vẫn kiên trì bền chí, tin tưởng ở quá khứ hào hùng, không ngừng tranh đấu
hướng tới tương lai rộng mở vì độc lập tự do của đất nước.
Một dân tộc, một quốc gia muốn trường tồn và phát triển, ngoài việc đẩy mạnh phát triển cơ
sở hạ tầng, khoa học kỹ thuật, điều quan trọng hơn nữa là phải có một nền tảng giáo dục vững
chắc. Trong đó, giáo dục về lịch sử và lòng tự hào dân tộc là cần thiết để ghi khắc trong tâm trí
các thế hệ, đặc biệt là tầng lớp thanh niên ý thức về nguồn gốc dân tộc, truyền thống văn hóa
và nội lực quốc gia, đồng thời giúp định hình góc nhìn thấu đáo về vai trò của từng giai đoạn,
triều đại và nhân vật - dù gây tranh cãi - tạo nên lịch sử đó.
Chính vì những giá trị to lớn đó, vấn đề học tập, tìm hiểu lịch sử nước nhà hiện đang là mối
quan tâm hàng đầu của Nhà nước và toàn xã hội. Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Quỹ Phát
triển Sử học Việt Nam, Tạp chí Xưa và Nay... và rất nhiều những tổ chức khác đã và đang kiên
trì con đường thúc đẩy sự phát triển của nền khoa học lịch sử quốc gia, phổ biến tri thức lịch
sử, góp phần giáo dục truyền thống văn hóa dân tộc tới toàn xã hội.
Đồng hành với mối quan tâm của toàn xã hội, Công ty Cổ phần Sách Alpha - một doanh
nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất bản, với tôn chỉ “Tri thức là sức mạnh” - đặc biệt quan
tâm tới việc góp phần nâng cao hiểu biết của người dân về truyền thống văn hóa lịch sử đất
nước.
Theo nhiều kết quả khảo sát, đánh giá nhu cầu của bạn đọc cho thấy, “lỗ hổng lịch sử” ở
không ít người trẻ hiện nay hoàn toàn có thể bù lấp một phần dựa trên nhiều nguồn tư liệu,
công trình nghiên cứu, sách cổ sách quý hiện đang được các Viện nghiên cứu, các tổ chức, cá
nhân lưu giữ. Để chung tay tái hiện một cách rõ nét những mảnh ghép lịch sử dân tộc, Công ty
Cổ phần Sách Alpha đã triển khai dự án xuất bản mang tên Góc nhìn sử Việt với mục đích xuất
bản lại và xuất bản mới một cách có hệ thống các công trình, tư liệu, sách nghiên cứu, sách văn
học có giá trị… về lịch sử, bước đầu hình thành nên Tủ sách Alpha Di sản.
Xin trân trọng giới thiệu.
Công ty CP Sách Alpha
QUY CÁCH BIÊN TẬP
Tủ sách “Góc nhìn sử Việt” ra đời, mục đích giới thiệu đến bạn đọc những tác phẩm hay, có
giá trị, đồng thời góp phần bảo lưu gìn giữ những giá trị văn hóa của đất nước. Để thực hiện bộ
sách này, chúng tôi tuân thủ một số quy cách sau:
1. Bảo toàn văn phong, nội dung nguyên gốc, từ ngữ mang đậm văn hóa vùng miền
trong tác phẩm (trừ khẩu âm).
2. Biên tập đối chiếu trên bản gốc sưu tầm được và có ghi rõ tái bản trên bản năm
nào.
3. Chú thích từ ngữ cổ, từ Hán Việt.
4. Tra cứu bổ sung thông tin: tiểu dẫn, tiểu sử, sự kiện, nhân vật, phụ lục (nếu cần
thiết)...
5. Sửa lỗi chính tả trong bản gốc.
6. Giản lược gạch nối từ ghép, khôi phục từ Việt hóa tiếng nước ngoài khi có đủ tài
liệu tra cứu tin cậy (trừ trường hợp từ ngữ đó đã dịch thành thuần Việt).
7. Trường hợp thông tin lịch sử trong sách có sai lệch so với chính sử, chúng tôi sẽ
chú thích hoặc đăng phụ lục ở cuối sách.
8. Một số hình ảnh trong sách gốc bị mờ, chất lượng kém… chúng tôi sẽ đăng bổ
sung - thay thế các hình ảnh có nội dung tương tự, chất lượng tốt (nếu có).
Mong đón nhận những ý kiến đóng góp của độc giả, hỗ trợ chúng tôi hoàn thiện tủ sách này.
Alpha Books
TIỂU DẪN
Bộ Tang thương ngẫu lục 桑滄偶錄 này do hai ông Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án cùng soạn
về năm Gia Long, chép những chuyện lặt vặt trong triều, ngoài nội mà hai ông đã nghe hoặc
thấy từ khoảng cuối Lê trở về trước.
Toàn bộ gồm có 90 chuyện, chia làm hai quyển, quyển trên 40 chuyện, quyển dưới 50
chuyện. Hai ông sinh hồi cuối Lê, cái khoảng đời đã xảy ra rất nhiều những việc bể dâu biến
đổi, mà bộ sách này chép nhiều câu chuyện biến thiên của hồi ấy, cho nên tên sách đặt là Tang
thương ngẫu lục, nghĩa là những câu chuyện ghi chép tình cờ trong cuộc bể dâu.
Ban đầu sách này chỉ có bản viết trong một thời gian gần trăm năm. Đến năm Bính Thân niên
hiệu Thành Thái thứ 8 (1896), ông Nghè Gia Xuyên Đỗ Văn Tân, Tổng đốc Hải Dương, quyên
tiền khắc ván, từ đấy mới có bản in mà sự lưu hành mới được rộng hơn trước.
Vì nghĩ là một bộ sách xưa, có bổ trợ cho nền sử học, nên chúng tôi đem phiên dịch in ra.
Ngòi bút thô lậu của chúng tôi, không biết khỏi có những chỗ sai lầm chăng, còn chờ ở các
bậc cao minh chỉ giáo.
Người dịch
TIỂU TRUYỆN PHẠM ĐÌNH HỔ
Ông Phạm Đình Hổ 范廷琥 (1768-1839(1)), tự Tùng Niên 松年, hiệu Đông Dã Tiều 東野樵,
người làng Đan Loan huyện Đường An(2) trấn Hải Dương, con quan Tham tri chính sự Phạm
Đình Dư 范廷璵. Vì là con vị đại thần, nên đương thời thường gọi là ông Chiêu Hổ.
Ông tư chất thông minh, học vấn rộng rãi. Tuổi trẻ thi đậu Sinh đồ, rồi vào học trường Quốc
tử giám. Gặp khi quân Tây Sơn từ phương Nam kéo ra đất Bắc, nhà tan nước vỡ, từ đấy ông
sống cái đời của một kẻ hàn nho. Bản triều đại định, trong đời Gia Long, ông có đi thi ba khoa
hương, nhưng đều trượt cả. Nhân sĩ Bắc Hà, ai cũng biết tiếng ông là người hay chữ. Vì thế thấy
ông thi trượt, có người bảo ông bị quan trường ghét mà đánh hỏng, bởi cớ ông nói năng không
chịu giữ gìn. Hồi ấy ông có nhà ở phường Thái Cực, huyện Thọ Xương, trong thành Thăng Long,
hằng ngày rèn dạy học trò, và vui với văn chương học vấn, có soạn ra được nhiều sách vở, trở
nên một nhà đại trước tác. Cũng trong hồi này ông kết bạn thơ rất thân mật với nữ sĩ Hồ Xuân
Hương, thường cùng nhau vịnh ngâm xướng họa, có những bài quốc âm bén giọng chớt nhả.
Niên hiệu Minh Mệnh năm đầu (1820), có chỉ triệu bọn các ông Phạm Đình Hổ, Phan Huy
Chú vào kinh đợi mệnh cất dùng, nhưng ông đương ốm không đi được. Mùa đông năm sau, ngự
giá ra Bắc, vời ông vào chầu ở điện Cần Chánh trong thành Thăng Long, hỏi về học vấn thi cử
và tình hình nhân tài đất Bắc, lại khuyên hễ có những sách vở về điển cố tiền triều, cùng là sách
trước thuật ra được đều nên đem tiến trình. Bấy giờ ông cũng đương ốm yếu lệt bệt, vua
truyền cấp cho mỗi tháng 2 phương gạo lương và 2 quan tiền. Ông lạy tạ trở về rồi có dâng lên
bốn bộ sách chép tay là những bộ này: Lê triều hải điển (2 quyển); Bang giao điển lệ (1 quyển);
Sứ quán bạn tiếp thư trát tập (1 quyển); Bạn tiếp thù phụng thi tập (1 quyển).
Sau khi ông mạnh, được triệu vào kinh. Ban đầu lĩnh chức Hành tẩu trong viện Hàn lâm, sau
thăng lên Biên tu, rồi lại thăng Thừa chỉ. Cuối cùng, được thăng đến chức Tế tửu ở trường Quốc
tử giám. Năm Minh Mệnh thứ 13 (1832), vì già yếu xin về trí sĩ.
Những sách ông trước soạn ra được, ngoài bộ Tang thương ngẫu lục này soạn chung với ông
Nguyễn Án thì còn có những bộ như: Vũ trung tùy bút lục, Hy kinh trắc lãi, Càn khôn nhất lãm
v.v…
Ông thọ đến ngoài 70 tuổi mới mất.
TIỂU TRUYỆN NGUYỄN ÁN
Ông Nguyễn Án 阮案 (1770-1815), tự Kính Phủ 敬甫, hiệu Ngu Hồ 愚湖, người làng Du Lâm,
phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc (Bắc Ninh), cháu đích tôn của ông tiến sĩ Nguyễn Bá (sau đổi là
Nguyễn Thưởng). Sinh gặp hồi cuối Lê loạn lạc, ông chỉ lấy thơ văn sách vở làm vui. Có làm nhà
ở tại trên bờ hồ Gươm, tự hiệu là Kiếm Hồ ngư ẩn. Vì là bạn chơi thân của ông Chiêu Hổ, nên
hai ông cùng nhau soạn chung ra bộ sách này. Bản triều thống nhất, niên hiệu Gia Long năm
thứ 4 (1805), mở khoa thi hương đầu tiên ở xứ Bắc, ông Án đi thi đỗ Cống sinh. Năm Gia Long
thứ 7 (1808), ông được bổ Tri huyện Tiên Minh (Hải Dương). Làm quan được 7 năm thì mất,
thọ 46 tuổi. Văn chương trước thuật, trừ bộ sách Tang thương ngẫu lục soạn với ông Chiêu Hổ,
ông còn có tập thơ Phong lâm minh lãi 風林鳴籟詩集 nữa.
TỰA
I.
Trời đất là một hóa cảnh, mở, đóng riêng chia, người vật là một sinh cơ, xưa, nay có khác.
Duy lẽ đạo của ta như một bầu nguyên khí bàng bạc, mà thường ký ngụ ở trong khoảng chữ
nghĩa văn chương. Ôi, gọi là tang thương, vì sao mà có tập sách này? Ốc hến trên núi, đó là tang
thương của vận giời; gươm cổ trong ruộng, đó là tang thương của việc người; kinh xưa không
thể lại thấy, chỉ thấy những sách chưa đốt của người Tần(3), sử đúng không thể lại được, chỉ
được bản thảo đã thành của Ban, Mã(4), đó là tang thương của sách vở. Song có người đem
xướng minh ra, thì lại có sự không tang thương ở trong.
Nước Nam ta từ đời Hồng Lạc đến nay, chính thống thì như Đinh, Lý, Trần, Lê, tiếm ngụy thì
như Mạc, Hồ, Nhạc, Huệ, lại nào sứ quân rạch đất, đô hộ cầm quyền, những cuộc tang thương,
há chẳng đã rất nhiều rồi sao! Than ôi, đạo ta vốn không có thời kỳ tang thương, nhưng người
ta tất có cái cảm khái tang thương, ấy tập sách tang thương này sở dĩ có là vì thế đó.
Tùng Niên là quan Quốc tử Tế tửu, hiệu Đông Dã Tiều, do chân trưng triệu mà ra, ông họ
Phạm đó; Kính Phủ là quan huyện doãn Tiên Minh, hiệu Ngu Hồ, ông họ Nguyễn đó. Hai ông
sinh về cuối đời Lê, gặp những cuộc biến bể dâu, nhưng bể học của các ông vẫn giữ được
nguyên trong lặng. Cho nên phát hiện ra văn, Tùng Niên viết bài ký núi Phật Tích, Kính Phủ viết
bài ký núi Tiên Tích, trong lời ký như có nét vẽ, có thể cùng với bài ký nguồn Đào hoa của Uyên
Minh đời Tấn cùng truyền. Lại còn như kể chuyện ba vị vua hiền đời Lê như Thánh Tông, Thần
Tông, Hiển Tông mà tường cả đến việc cũ ở trong phủ chúa; kể chuyện các vị danh thần đời
Trần như Chu Văn An, Trương Hán Siêu, Phạm Ngũ Lão, mà đến cả thói ngang ngạnh của Quận
mã Đặng Lân. Chép chuyện đền miếu ở thôn ấp, thì đến cả việc Thuần Dương tổ sư nhận lầm là
Liễu Hạnh công chúa, tượng cổ ở ngôi chùa đồng, bia đá ở núi Thành Nam, thần thiêng ở quán
Trấn Võ, thánh giang ở đền Linh Lăng. Chép chuyện mả tổ nhà người thì đến cả mả mẹ Đào
Khản, lại đem mả người thiếp của Phục Ba ra để đối chứng, thầy địa ở Tả Ao, mả phát ở Vân
Điềm, tiết phụ nhà họ Đàm, võ thần làng Quế Ổ. Tuy bậc danh công của lịch đại, hay người tài
nữ của một thời, đều vào trong ngọn bút phẩm bình. Chân nhân đi theo tiên, cùng là nông phu
trông thấy quỷ, cũng không hiềm là quái đản. Thậm đến cột gỗ biện gian, Thái Tây truyền đạo,
cùng những việc lạ ăn người, hóa hổ, cũng đều ghi chép. Từ Lý, Trần, Lê, Trịnh đến nay, trên
dưới mấy trăm năm, có những điều quốc sử chưa ghi, dã sử chưa chép, hai ông đều thu cả vào
trong cõi mắt tang thương. Nếu hai ông hết thảy đều cho là việc tang thương mà quên đi, thì
những chuyện ấy phỏng được mấy lâu mà mai một đi mất. May mà lấy ngòi bút tang thương
biên chép, nên nó còn là cánh bè chở bến mê, ngọn đèn soi nhà tối, đặt tên là Tang thương
ngẫu lục, ý nghĩa có thể nhận biết được vậy.
Nay ông Gia Xuyên đã gặp thời mà để ý vào việc kiếm sách, bác Hải Nông chưa gặp thời mà
dùng công vào việc khắc ván, cùng với tôi đều người trong cuộc tang thương mà ý thú tình cờ
gặp nhau. Vì thế nên tôi quen mình bỉ lậu, viết mấy lời lên đầu giấy, mong rằng không vì tang
thương mà phải bỏ đi thì may lắm.
Hoàng triều năm Bính Thân(5) tháng tiểu xuân ngày thượng cán(6)
Chủ nhân đình Tam An
Phùng Dực Bằng Sô
Cẩn tựa
II.
Việc không gì lớn bằng giữ gìn cái cũ, học không gì cần bằng bỏ trống chỗ ngờ, đó thật là lời
nói biết lẽ.
Nước Nam ta trải trăm nghìn năm, vẫn là một nước văn hiến cũ, nhà làm sử đời nào cũng có.
Song từ Lê về trước phần nhiều giản lược, khiến cho người khảo cổ thường phải băn khoăn,
vậy thì những dã sử ngoại truyện, sao nên để cho mai một.
Mậu này từ thủa nhỏ hầu học gia nghiêm(7), thường được người đem những chuyện các bậc
danh hiền đời trước của nước nhà mà kể cho nghe, như ông Hương cống họ Nguyễn ở làng Cổ
Đô mải miết học tập(8), ông Thám hoa họ Giang ở làng Mông Phụ đi sứ vẻ vang(9), ông Trạng
nguyên họ Vũ ở làng Trình Xá gieo ấn xuống bể mà chết theo nạn nước(10), và còn nhiều
chuyện khác nữa. Đó cũng là đem những chuyện thật ở ngoài chính sử mà kể, trẻ dại biết gì,
bấy giờ tôi chỉ biết vâng dạ mà thôi. Rồi sau đó đi làm quan xa, tôi từng được trông thấy tập
Tang thương ngẫu lục ở nhà người bạn. Xem tên người viết thì là Tùng Niên và Kính Phủ, cũng
chưa biết rõ là ai. Nhưng những chuyện biên chép trong đó, có nhiều chuyện đúng như tôi đã
được nghe, vậy không còn ngờ gì đó là một tập chép những sự thực. Năm nay tôi ở nhà báo
Đồng Văn, đã đem chuyện ông Hương cống Cổ Đô vào báo. Chợt người bạn cũ là bác Lê Hải
Nông đem tập này đến mà bảo: “Đây là sách của bậc danh hiền làng tôi soạn ra, nay ông bạn đỗ
đồng khoa của bác là quan Tổng đốc Hải Dương Đỗ Gia Xuyên quyên tiền lương bổng để khắc
ván, vậy bác làm cho một bài tựa”. Hỏi ra thì Tùng Niên là quan Tế tửu Phạm Đình Hổ người
làng Đan Loan, Kính Phủ là ông Hương cống Nguyễn Án đỗ khoa thi hương thứ nhất của Quốc
triều, người làng Du Lâm. Hai ông sinh về thời Cảnh Hưng nhà Lê, đến khi hoàng triều dấy lên
mới ứng mệnh mà ra làm quan. Trong khoảng đó Tây (Tây Sơn), Bắc (Tàu) tranh giành non
sông biến đổi, trắng xanh nhấp nhoáng, chớp mắt muôn màu, những việc tang thương, nói làm
sao xiết. Bộ sách này vốn không phải là đúng với bộ mặt thật, những chữ lầm lạc, không khỏi
chen lẫn ít nhiều, vậy cứ để khuyết nghi là phải. Tựu trung ghi chép những việc tai nghe mắt
thấy, đủ để bổ khuyết cho cái chỗ sử không chép đến. Có những câu chuyện quái đản, đại khái
là rút ra từ nét bút của chức Tả sử(11) và để ngụ cái ý thâm vi. Ban đầu chép các vua Thần Tông,
Hiển Tông, sau cùng thì lấy giấc mộng của Thánh Tông, Thuần Tông để kết. Chuyện thuộc về
bên nhà Phật, đáng nhẽ người quân tử không nói, hai ông cũng đã rằng vậy. Vậy mà trong sách
lại thường nói đến luôn, và chép một cách thẳng thắn, không tỏ ra nghi ngờ gì cả, chính là có ký
thác một cái ý ở trong đó vậy. Chao ôi, đó há chẳng là ý “đối với cái thời các bậc anh hiền đời
Tam Đại, ta chưa kịp thấy nhưng mà vẫn để lòng mong ước”(12) đấy ư? Thời nay phong khí mở
mang, mỗi ngày mỗi lạ. Bên ngoài bể cả, bậc đá phẳng như đá mài, đường sắt giăng như bàn cờ,
rực rỡ lầu pha lê, tưng bừng đèn điện khí, đó là nương dâu đó chăng? Lại như cắp cánh máy bay
lên trên không, cưỡi khí cầu đi tìm Bắc cực. Sau đây mấy chục năm nữa, những dấu vết của thời
kỳ cũ kỹ, há chẳng theo cùng một giấc mộng mà biến mất không còn tý gì. Song trạm khắc đã
chán thì lại nhớ đồ mộc, góc giác đã vỡ thì lại nhớ hình tròn, đó là cái tình rất thường mà cái lý
tất đến như thế. Lấy cái ý khuyết nghi tồn cổ mà suy, không nên cẩu thả làm cho văn xuôi chữ
thuận, hẵng để dành lại cho những người học kỹ nghĩ sâu sau này, như nhời ở bài tựa quyển
Chiến Quốc sách đã nói, Mậu đối với quyển sách này, cũng nghĩ như vậy.
Niên hiệu Thành Thái năm Bính Thân sau tiết Đông chí.
Phó bảng khoa Canh Thìn, trông coi công việc tòa báo Đồng Văn.
Giá Sơn Kiều Oánh Mậu
Cẩn tựa
PHẦN I. TANG THƯƠNG NGẪU LỤC - QUYỂN
THƯỢNG
THẦN TÔNG HOÀNG ĐẾ(13)
Vua Kính Tông hồi tiên triều (triều Lê), ở ngôi lâu năm, mà chưa sinh hoàng nam để lập làm
Thái tử, thường cầu khấn trời đất quỷ thần mãi. Rồi hoàng hậu Trịnh thị có mang, đến ngày lên
giường cữ, mãi chưa sinh được, lòng vua lo lắng. Chợt vua chiêm bao thấy có người bảo:
“Hoàng tử còn ở chợ Báo Thiên(14), hậu cung sinh mau sao được!”. Tỉnh dậy, vua sai nội giám
thử ra chợ ấy dò xem. Bấy giờ vừa tang tảng sáng, chợ vắng tanh chưa có ai. Nội giám chỉ thấy
dưới gầm phản hàng thịt, có lão ăn mày tóc bạc phơ, tuổi chừng 81, 82, đương nằm ở mặt đất
mà rên hừ hừ, ngắc ngoải chờ chết. Nội giám vội chạy về tâu. Vua lại sai ra thăm hỏi xem. Sáng
ra thì lão ăn mày chết mà giữa lúc ấy, trong cung hoàng hậu đã sinh ra hoàng tử. Hoàng tử
nhớn lên nối ngôi, tức là Thần Tông. Khi ở ngôi, lấy ngày sinh làm tiết Thọ Dương. Hằng năm
đến ngày, nhà chức trách dựng hành tại(15) ở chợ Báo Thiên; bộ Lễ sắm xe giá tàn quạt, đến nơi
hành tại, rước hai cây thiên tuế, vạn tuế làm bằng trúc về cung; quan ở tòa Kinh Diên rước hai
cây ấy đi quanh giường ngự ba vòng, chúc Hoàng đế sống lâu muôn tuổi. Lễ cử hành xong, vua
ngự ở điện Vạn Thọ, chịu lễ chầu mừng, ban yến ở sân điện. Các triều vua sau cũng theo như
thế, gọi là lễ Khánh Thọ bảo thần. Vua sinh được bốn con là Chân Tông, Huyền Tông, Gia Tông,
Hy Tông đều lên ngôi thiên tử, phúc thọ vào bậc nhất ở đời trung hưng.
Khoảng năm Vĩnh Hựu (1735-1740), vua Ý Tông thường chế hạc gỗ và lực sĩ Chiêm Thành
(người phỗng) dâng cúng ở trước tượng thờ vua Lý Thần Tông tại chùa Thiên Phúc, núi Phật
Tích(16), vì tương truyền hậu thân vua Lý Thần Tông tức là vua Thần Tông triều Lê.
Xét cái thuyết tiền thân, hậu thân là xuất tự kinh điển nhà Phật, người quân tử(17) chẳng hề
nói đến. Nếu quả có chuyện ấy thật thì tiền thân vua Lý Thần Tông là thầy tu Từ Đạo Hạnh, hậu
thân là lão già ở chợ Báo Thiên, lại hậu thân là vua Thần Tông triều Lê; một ông sư, một lão ăn
mày, tái sinh vào nhà đế vương, khiến người không thể hiểu nổi.
HIỂN TÔNG HOÀNG ĐẾ
Năm Cảnh Hưng Ất Tỵ (1785), gặp kỳ lễ thọ thất tuần của Hiển Tông hoàng đế, đình thần là
ông Bùi Huy Bích, ông Hồ Sĩ Đống ở trong chính phủ, bàn dâng tôn hiệu là Uyên Ý Khâm Cung
Nhân Từ Đức Thọ Hoàng Đế và làm lễ trong ngày tiết Thánh Thọ. Bấy giờ việc chầu trong triều
đường bỏ bễ từ lâu; nền điện cũ ở Nùng Sơn bỏ làm điện Kính Thiên, thờ Hiệu thiên Thượng đế
(giời), Hậu thổ Địa kỳ (đất), và phụ phối đức Thái Tổ hoàng đế. Những ngày mồng một và rằm,
vua ra coi chầu ở điện Cần Chính. Viện Đãi Lậu ở hai bên điện ấy nối nhau sụp đổ, cỏ mọc lên
thềm và ngập đến đầu gối, phân ngựa vấy ra bừa bãi. Đến bấy giờ, sai viên Đề lĩnh đốc suất bọn
vệ sĩ sửa dọn thềm son, chữa viện Đãi Lậu. Trước một ngày, quan Phủ doãn Phụng Thiên(18) là
Hoàng Vĩnh Trân đem những thuộc quan mặc đồ triều phục, đến túc trực ở nhà giám Tư lễ, coi
giữ biểu mừng. Đến ngày, hoàng thượng ngự lên bảo tọa, hai ban văn võ dàn theo thứ tự.
Ông Hoàng tử Đại tư đồ Sùng Nhượng công đứng đầu võ ban, ông Hồ Sĩ Đống đứng thứ hai;
Quốc lão quận công Nguyễn Công Hãng(19) đứng đầu văn ban, ông Bùi Huy Bích đứng thứ hai.
Tòa Hồng lô róng rả các viên Tự ban trong sở Hạp môn, chia ra nội tán ngoại tán để xướng lễ.
Ông Phan Huy Ích quỳ ở phía hữu ngự điện, tuyên đọc tờ biểu, tiếng vang ra tận cửa Đoan
Môn. Lễ thành, viên thái giám mặc áo bào hồng, thắt đai văn tê, từ phía hữu ngự tọa xuống
thềm tuyên chỉ, ban yến ở viện Đãi Lậu. Những ông già bà cả ở kinh đô đều nói:
- Từ niên hiệu Chính Hòa(20) đến nay, trải 80 năm, không được trông thấy lễ này.
Tờ biểu (có chép trong sách Hoàng Việt văn tuyển) mở đầu có hai vế:
黼座天開,龜籌薦壽康之福
Phủ tọa thiên khai, quy trù tiến thọ khang chi phúc,
彤庭日麗,虎拜揚保定之休
Đồng đình nhật lệ, hổ bái dương bảo định chi hưu.
(Ngai thêu trời mở, thẻ rùa dâng phúc thọ khang. Sân son nắng chiếu, gối hổ chúc lành bảo
định).
Giữa có hai vế:
千春歷始登四紀
Thiên xuân lịch thủy đăng tứ kỷ,
萬年籌初逮七旬
Vạn niên trù sơ đại thất tuần.
(Lịch nghìn xuân mới lên bốn kỷ(21);
Thẻ muôn năm vừa tới bảy tuần).
Còn nữa không chép ra đây hết.
CHUYỆN CŨ TRONG PHỦ CHÚA
Kính Phủ
Sau khi vạc đổi(22), có tên Đang làm mướn cho tôi. Vốn là chân nội thị đời chúa Tĩnh
Vương(23), kể lại những chuyện cũ ở trong cung phủ rất tường. Mỗi năm đến Tết trung thu, từ
trước mấy tháng, chúa phát gấm trong cung ra để làm hàng trăm hàng nghìn cái đèn lồng, cái
nào cũng tinh xảo tuyệt vời, mỗi cái giá đến mấy chục lạng vàng. Đến ngày, chúa ngự giá ra
chơi Bắc cung. Cung có ao gọi là Long Trì, rộng nửa dặm, trong ao trồng rất nhiều hoa sen, hoa
súng. Ven ao đắp đất, chồng đá làm núi, chỗ cao chỗ thấp, dàn đặt có hình có thế. Có những chỗ
khuỷu để cho nhạc công ngồi đàn sáo. Bờ ao trồng hàng mấy trăm cây phù dung, treo đèn ở
trên. Sóng trăng dập dờn, trông xa tựa hồ hàng vạn ngôi sao sáng. Nội thị từ tam phẩm trở lên,
chít khăn mặc áo như đàn bà, bày hàng ở rìa đường, bán những tạp hóa cùng các đồ hoa quả,
chả, rượu, thức gì cũng có, chồng chất như núi. Cung nhân qua lại mua bán, vừa mua vừa cướp,
không cần hỏi giá cả bao nhiêu; đua nhau đem những câu hát quê ra đối chọi với nhau, tiếng
cười đùa vang cả trong ngoài. Nửa đêm chúa ngự kiệu đến ao, xuống thuyền. Quan hầu và các
phi thiếp gõ ván hò reo, đi lại vùn vụt và lênh đênh trên sông. Chợt lúc lại đánh đàn, lại thổi sáo,
lại ca hát, tiếng vang lanh lảnh, khiến người tưởng như lên chơi cung Quảng hàn(24) mà nghe
khúc nhạc Quân thiên(25). Chúa nhìn ngắm lấy làm vui sướng, đến mãi gà gáy mới về.
ÔNG NGUYỄN DUY THÌ
Quan Thượng thư Nguyễn Duy Thì là quan tể tướng có tiếng đời Trung hưng, giữ mình ngay
thẳng và khéo xoay đổi được ý của vua chúa. Trong phủ chúa có một cái kiệu, kiểu cách và sơn
vẽ rất lộng lẫy. Một hôm, ông đứng cạnh, chợt ngã vật vào trong kiệu, cấm khẩu, không nói
được câu gì. Chúa sai khiêng đưa về phủ. Sáng hôm sau, ông vào khải(26) rằng:
- Thần hôm qua ngộ cảm, đội ơn chúa thượng bao dung. Cái kiệu ấy, thần đã trót ốm nằm lên
rồi, không tiện lại tiến phụng nữa. Xin sẽ sắm cái khác đẹp đẽ hơn, dâng nộp.
Chúa hiểu ý, không trách hỏi nữa.
Một lần, ông vào xin phép chúa để về Yên Lãng(27). Bấy giờ chúa yêu một bà phi người làng
Mông Phụ, bà phi ấy được yêu chiều quý báu nên uy thế cũng khá to. Ông vẫn thường nói xa để
khuyên ngăn chúa. Nay nhân dịp ông cáo về vắng, chúa ngự thuyền rồng lên kinh lý Sơn Tây,
tiện đường rẽ vào thăm làng nhà bà phi. Thuyền chúa qua hạt Yên Lãng. Ông chờ rồi phục lạy ở
bến sông, nói bốn phương không có giặc giã, sao lại vì một người đàn bà mà làm nhọc đến sáu
quân, như vậy quốc thể còn ra sao nữa. Kíp truyền cho quân sĩ không được bơi thuyền tiến lên,
hễ ai trái, sẽ lấy quân pháp trị tội. Chúa vì thế phải hồi loan.
Trong phủ(28) của ông có một nếp nhà gọi là nhà Tư chính(29), đó là nơi để khi lui chầu, ông
về nghỉ ngơi. Trong nhà ấy chỉ có hai gã tiểu đồng hầu hạ; bà vợ và hầu thiếp, không ai được
bén mảng tới, và cũng không dám đem việc riêng kêu xin gì cả. Một lần, có một cái án lớn, tội
nhân đáng phải tử hình. Người nhà đem tiền của chạy chọt hết các cửa quyền quý, nhưng ai
cũng bó tay, không thể cứu nổi. Người vợ tội nhân đón hai tiểu đồng mà khóc lạy, nhờ đưa hai
nghìn lạng bạc lễ ông để ông gỡ tội cho. Tiểu đồng xua tay nói:
- Tướng công đây không phải là người đem vàng bạc làm động lòng được. Nhưng tôi không
nỡ trông thấy chị đau đớn, vậy để hẵng thử xem.
Tiểu đồng đem bạc vào nhà Tư chính, để trên cạnh giường ông nằm. Đêm khuya, ông chợt từ
trong chính phủ về, trèo lên giường nằm, đụng phải; bạc rơi loảng xoảng xuống đất. Giật mình
hỏi tiểu đồng sao lại có những vật này. Tiểu đồng quỳ xuống xin chịu tội chết và nói duyên cớ.
Ông im lặng lúc lâu rồi nói:
- Thôi cho đứng dậy, ta không bắt tội mày. Tử hình là một cái án lớn. Vì mối lợi hai nghìn
lạng, mày là một đứa bé con dám đem cái chết để đương lấy. Hoặc giả bởi ý giời chăng? Thế mụ
ấy cho mày bao nhiêu?
- Bẩm sáu trăm lạng.
- Thôi, số bạc này cho mày, ta không dùng gì đến.
Liền ngay lúc ấy, ông đi xe đến gõ cửa cung. Chúa giật mình trở dậy, cho vời vào, hỏi chuyện,
tưởng là có việc gì lớn lao về quân quốc. Ông nói hôm qua xét án, đã xử tội nhân phải chết,
nhưng đêm về chiêm bao, thấy có người nói oan ức, không biết kêu đâu, vậy xin nhờ chúa xét
lại! Chúa cười:
- Tiên sinh chịu khó quá, để đến sáng mai vào hầu sẽ nói có được không?
- Nhưng thần sợ để chậm, chốc lát rồi bị ý riêng nó làm thay đổi đi.
Chúa ân cần yên ủy mà tên tù rồi được khỏi chết.
HỒ GƯƠM
Đời Lê, năm Cảnh Hưng Bính Ngọ [1786] mùa hạ, tại hồ Hoàn Kiếm, đương nửa đêm bỗng
có vật gì mọc lên ở hòn đảo, sáng rực bốn bề, bay sang đến bờ nam thì tắt. Sóng hồ cuộn lên.
Sáng hôm sau, tôm cá nổi lên mặt hồ không biết bao nhiêu mà kể. Có người nói ở nhà Trung
Hòa trong phủ chúa, cũng có vật gì mọc lên từ nóc nhà, sáng rực rồi tắt, cũng giống như ở hồ
Hoàn Kiếm. Chưa bao lâu xảy ra việc quốc biến(30).
ÔNG NGUYỄN VĂN GIAI
Ông Nguyễn Văn Giai ở Thiên Lộc(31) hồi chưởng quản Lục bộ, các bậc thân quý của vua
chúa đều phải nín hơi, không dám xúc phạm. Một vị quận mã(32) trong phủ chúa đi đánh trận
thua chạy, ông bắt bỏ ngục, rồi xử vào tội tử. Chúa muốn tha nhưng rất khó nói. Nhân cầu đến
dụ chỉ nhà vua, cũng vẫn không lay được chí định của ông. Bấy giờ ông có nhiều vợ, có đến năm
sáu bà, địa vị hầu như là bà Chính phu nhân, mà có bà Ba được ông yêu dấu lắm. Bà quận chúa
đem châu ngọc, nhờ bà phó mẫu(33) dẫn đến thăm bà ba và kể việc quận mã. Bà Ba từ chối mà
rằng:
- Tướng công tôi là người thanh liêm, thẳng thắn. Việc lớn của triều đình, tôi đâu dám dự.
Quận chúa cố nói thiết thảm, bà Ba bèn bảo:
- Nếu vậy sáng mai, quận chúa cho đem một con lợn nhỏ luộc chín, một mâm xôi thổi nếp
cái, và kèm cả tương giấm, dao thớt nữa, lựa lúc tướng công tôi đi vắng, đưa vào.
Quận chúa mừng rỡ cảm ơn.
Sáng hôm sau, sắp sửa vào triều, ông bảo dọn cơm sáng để ăn. Bà Ba nói:
- Trong triều bây giờ các quan đến đầy rồi. Tướng công hãy vào rồi về sẽ xơi cơm thì hơn.
Ông lên kiệu đi. Lúc ở trong triều về thì bụng đói ngấu, thấy cái lồng bàn đậy, mở ra, sẵn dao
và thớt, thái luôn ngay thịt lợn ăn lẫn với xôi. Chỉ có một lúc hết cả. Ăn xong, ông chợt hỏi:
- À, những thứ ấy ở đâu mà có thế nhỉ?
Bà Ba kể duyên do. Ông rất tức bực, lúc lâu mới nói:
- Ta lầm lỗi rồi! Ta lầm lỗi rồi! Nhưng vì một bữa ăn no mà làm sống một mạng người, chẳng
cũng bởi giời hay sao!
Liền lên xe vào phủ, xin tha cho người có tội. Chúa mừng rỡ mà nghe theo ngay.
Một hôm, ông vào triều đi qua chợ Cửa Đông, thấy con cá mè lớn, bề ngang đẫy thước. Ông
dừng lại hỏi và khen ngợi. Rồi ông về nhà, thấy rất nhiều người đem biếu cá, toàn là những
khúc cá mè cả. Ông đùa, bảo thử chắp lại xem, thấy chỉ thiếu đuôi, còn thì đều đủ thân hình con
cá. Ông than rằng:
- Có lẽ con cháu ta sau này không được thịnh vượng chăng(34)?
Sau khi ông mất, quả đúng như lời ấy.
…(35)
Sau đấy, Quốc lão Phạm Công Trứ cầm quyền quốc chính. Có một viên tù trưởng thượng du
phạm tội chết. Chị vợ luồn lọt với người bếp nhà ông. Người bếp xui đem biếu chim sẻ vàng, vì
đó là món ông rất thích. Đem chim sẻ đến, người bếp nướng chả dâng lên. Ông ăn xong rồi hỏi.
Người bếp đưa số vàng lễ ra và phục xuống xin chịu tội. Ông thò tay vào cổ họng móc để thổ ra
rồi nói:
- Thôi, mày đem số vàng ấy đi, tao tha cho không quở trách nữa.
Khi án đem ra xử, ông nói với chúa Trịnh tha cho người tù trưởng...
MỤC LỤC
LỜI GIỚI THIỆU
QUY CÁCH BIÊN TẬP
TIỂU DẪN
TIỂU TRUYỆN PHẠM ĐÌNH HỔ
TIỂU TRUYỆN NGUYỄN ÁN
TỰA
I.
II.
PHẦN I. TANG THƯƠNG NGẪU LỤC - QUYỂN THƯỢNG
THẦN TÔNG HOÀNG ĐẾ(13)
HIỂN TÔNG HOÀNG ĐẾ
CHUYỆN CŨ TRONG PHỦ CHÚA
ÔNG NGUYỄN DUY THÌ
HỒ GƯƠM
ÔNG NGUYỄN VĂN GIAI
NGƯỜI NÔNG PHU Ở NHƯ KINH
NGƯỜI NÔNG PHU Ở AN MÔ
MA ĐỒNG XUÂN
ÔNG NGUYỄN CÔNG HÃNG
ÔNG NGUYỄN BÁ DƯƠNG
QUẬN MÃ ĐẶNG LÂN
THÀNH ĐẠO TỬ
ÔNG LÊ THÌ HIẾN
ÔNG ĐỖ THẾ GIAI ÔNG HOÀNG NGŨ PHÚC
CHÙA TIÊN TÍCH
LIỆT PHỤ ĐOÀN PHU NHÂN
NGƯỜI LÀM MƯỚN Ở KINH THÀNH
ÔNG LÊ ANH TUẤN
ÔNG BÙI THẾ VINH
ÔNG NGUYỄN CÔNG HOÀN
ÔNG LÊ HỮU KIỀU
ÔNG NGUYỄN TRỌNG THƯỜNG
BÀI KÝ CHƠI NÚI PHẬT TÍCH - (CHÙA THẦY)
DẬT SỬ CỦA CỤ THÁI TỂ
ÔNG ĐÀM THẬN HUY
ÔNG LÊ TUẤN MẬU
ÔNG DƯƠNG BANG BẢN
ÔNG UÔNG SĨ ĐOAN
HÓA HỔ
ĐỨA CON ĐEN
HANG NÚI
ANH KẺ TRỘM LÀNG LÂM HỘ
ÔNG ĐỖ UÔNG
TƯỚNG QUÂN ĐOÀN THƯỢNG
SÔNG DÙNG
NÚI ĐÔNG LIỆT
NÚI RẾT
NỘI ĐẠO TRÀNG
BÀ VỢ THỨ ÔNG NGUYỄN KIỀU
PHẦN II. TANG THƯƠNG NGẪU LỤC - QUYỂN HẠ
ÔNG CHU VĂN TRINH
ÔNG LÊ TRÃI
ÔNG BÙI CẦM HỔ
THƠ MA
ÔNG PHẠM NGŨ LÃO
THI HỘI
MẢ MẸ ĐÀO KHẢN
CÁI MIẾU CỔ Ở CỬA ĐÔNG HOA
TƯỢNG GIÀ LAM Ở NGÔI CHÙA ĐỒNG
BIA NÚI THÀNH NAM
CỤ THÁI TỂ TÔI
SÔNG ĐỘC
MẢ TỔ QUẬN BẰNG
MIẾU THANH CẨM
DẬT SỰ CỦA ÔNG TIÊN HỌ PHẠM.
ÔNG ĐẶNG CHẤT
ÔNG NGUYỄN TÔNG KHUÊ
QUAN QUẬN LỘC Ở HÀM GIANG
TẢ AO TIÊN SINH.
THÀNH CŨ TRIỀU KHẨU
ÔNG VŨ DUỆ
ÔNG NGUYỄN VĂN GIAI(102)
MIẾU THUẦN DƯƠNG TỔ SƯ
NGƯỜI KHỔNG LỒ
ÔNG PHẠM ĐÌNH TRỌNG
CHÙA THIÊN MỤ
HỒ HOÀN KIẾM
CỬA KINH THÀNH
ÔNG HOÀNG SẦM
ÔNG ĐẶNG TRẦN CÔN
MẸ RANH CÀN SÁT
ĐỀN TRẤN VÕ
NÚI DỤC THÚY
MẢ TỔ HỌ NGUYỄN LÀNG QUẾ Ổ
ÔNG SẤM
ÔNG DƯƠNG CÔNG CAO
ÔNG NGUYỄN ĐĂNG CẢO
ÔNG BÙI HUY BÍCH
THÁP BÁO THIÊN
TIÊN QUẬN CHÚA
NGƯỜI BÁN THAN
II
III
I
II
III
IV
PHẠM TẤU
ÔNG VÕ CÔNG TRẤN
ÔNG NGUYỄN TRẬT
ÔNG VÕ SƯỞNG
CHUYẾT CÔNG THIỀN SƯ
ĐỀN LINH LANG
CHÙA KIM LIÊN
THÁNH TÔNG HOÀNG ĐẾ
THƠ ĐỀ SAU
TỦ SÁCH ALPHA DI SẢN - GÓC NHÌN SỬ VIỆT
MỤC LỤC
LỜI GIỚI THIỆU
QUY CÁCH BIÊN TẬP
TIỂU DẪN
TIỂU TRUYỆN PHẠM ĐÌNH HỔ
TIỂU TRUYỆN NGUYỄN ÁN
TỰA
PHẦN I. TANG THƯƠNG NGẪU LỤC - QUYỂN THƯỢNG
THẦN TÔNG HOÀNG ĐẾ
HIỂN TÔNG HOÀNG ĐẾ
CHUYỆN CŨ TRONG PHỦ CHÚA
ÔNG NGUYỄN DUY THÌ
HỒ GƯƠM
ÔNG NGUYỄN VĂN GIAI
NGƯỜI NÔNG PHU Ở NHƯ KINH
NGƯỜI NÔNG PHU Ở AN MÔ
MA ĐỒNG XUÂN
ÔNG NGUYỄN CÔNG HÃNG
ÔNG NGUYỄN BÁ DƯƠNG
QUẬN MÃ ĐẶNG LÂN
THÀNH ĐẠO TỬ
ÔNG LÊ THÌ HIẾN
ÔNG ĐỖ THẾ GIAI ÔNG HOÀNG NGŨ PHÚC
CHÙA TIÊN TÍCH
LIỆT PHỤ ĐOÀN PHU NHÂN
NGƯỜI LÀM MƯỚN Ở KINH THÀNH
ÔNG LÊ ANH TUẤN
ÔNG BÙI THẾ VINH
ÔNG NGUYỄN CÔNG HOÀN
ÔNG LÊ HỮU KIỀU
ÔNG NGUYỄN TRỌNG THƯỜNG
BÀI KÝ CHƠI NÚI PHẬT TÍCH - (CHÙA THẦY)
DẬT SỬ CỦA CỤ THÁI TỂ
ÔNG ĐÀM THẬN HUY
ÔNG LÊ TUẤN MẬU
ÔNG DƯƠNG BANG BẢN
ÔNG UÔNG SĨ ĐOAN
HÓA HỔ
ĐỨA CON ĐEN
HANG NÚI
ANH KẺ TRỘM LÀNG LÂM HỘ
ÔNG ĐỖ UÔNG
TƯỚNG QUÂN ĐOÀN THƯỢNG
SÔNG DÙNG
NÚI ĐÔNG LIỆT
NÚI RẾT
NỘI ĐẠO TRÀNG
BÀ VỢ THỨ ÔNG NGUYỄN KIỀU
PHẦN II. TANG THƯƠNG NGẪU LỤC - QUYỂN HẠ
ÔNG CHU VĂN TRINH
ÔNG LÊ TRÃI
ÔNG BÙI CẦM HỔ
THƠ MA
ÔNG PHẠM NGŨ LÃO
THI HỘI
MẢ MẸ ĐÀO KHẢN
CÁI MIẾU CỔ Ở CỬA ĐÔNG HOA
TƯỢNG GIÀ LAM Ở NGÔI CHÙA ĐỒNG
BIA NÚI THÀNH NAM
CỤ THÁI TỂ TÔI
SÔNG ĐỘC
MẢ TỔ QUẬN BẰNG
MIẾU THANH CẨM
DẬT SỰ CỦA ÔNG TIÊN HỌ PHẠM
ÔNG ĐẶNG CHẤT
ÔNG NGUYỄN TÔNG KHUÊ
QUAN QUẬN LỘC Ở HÀM GIANG
TẢ AO TIÊN SINH
THÀNH CŨ TRIỀU KHẨU
ÔNG VŨ DUỆ
ÔNG NGUYỄN VĂN GIAI
MIẾU THUẦN DƯƠNG TỔ SƯ
NGƯỜI KHỔNG LỒ
ÔNG PHẠM ĐÌNH TRỌNG
CHÙA THIÊN MỤ
HỒ HOÀN KIẾM
CỬA KINH THÀNH
ÔNG HOÀNG SẦM
ÔNG ĐẶNG TRẦN CÔN
MẸ RANH CÀN SÁT
ĐỀN TRẤN VÕ
NÚI DỤC THÚY
MẢ TỔ HỌ NGUYỄN LÀNG QUẾ Ổ
ÔNG SẤM
ÔNG DƯƠNG CÔNG CAO
ÔNG NGUYỄN ĐĂNG CẢO
ÔNG BÙI HUY BÍCH
THÁP BÁO THIÊN
TIÊN QUẬN CHÚA
NGƯỜI BÁN THAN
PHẠM TẤU
ÔNG VÕ CÔNG TRẤN
ÔNG NGUYỄN TRẬT
ÔNG VÕ SƯỞNG
CHUYẾT CÔNG THIỀN SƯ
ĐỀN LINH LANG
CHÙA KIM LIÊN
THÁNH TÔNG HOÀNG ĐẾ
THƠ ĐỀ SAU
TỦ SÁCH ALPHA DI SẢN - GÓC NHÌN SỬ VIỆT
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach
LỜI GIỚI THIỆU
Bạn đọc thân mến!
Lịch sử văn hóa của một dân tộc không phải của riêng cá nhân nào, chính vì vậy, việc bảo tồn,
gìn giữ và phát triển lịch sử văn hóa cũng không phải riêng một người nào có thể gánh vác
được, nó thuộc về nhận thức chung của toàn xã hội và vai trò của từng nhân tố trong mỗi
chặng đường lịch sử. Lịch sử là một khoa học. Lịch sử không phải là việc thống kê sự kiện một
cách khô khan rời rạc. Bởi mỗi sự kiện trong tiến trình đó đều có mối liên kết chặt chẽ với
nhau bằng sợi dây vô hình xuyên suốt không gian và thời gian tạo nên lịch sử của một dân tộc.
Dân tộc Việt Nam trải hơn một nghìn năm Bắc thuộc, gần trăm năm dưới ách cai trị của thực
dân, đế quốc, nhưng con cháu bà Trưng, bà Triệu, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi,
Quang Trung... vẫn kiên trì bền chí, tin tưởng ở quá khứ hào hùng, không ngừng tranh đấu
hướng tới tương lai rộng mở vì độc lập tự do của đất nước.
Một dân tộc, một quốc gia muốn trường tồn và phát triển, ngoài việc đẩy mạnh phát triển cơ
sở hạ tầng, khoa học kỹ thuật, điều quan trọng hơn nữa là phải có một nền tảng giáo dục vững
chắc. Trong đó, giáo dục về lịch sử và lòng tự hào dân tộc là cần thiết để ghi khắc trong tâm trí
các thế hệ, đặc biệt là tầng lớp thanh niên ý thức về nguồn gốc dân tộc, truyền thống văn hóa
và nội lực quốc gia, đồng thời giúp định hình góc nhìn thấu đáo về vai trò của từng giai đoạn,
triều đại và nhân vật - dù gây tranh cãi - tạo nên lịch sử đó.
Chính vì những giá trị to lớn đó, vấn đề học tập, tìm hiểu lịch sử nước nhà hiện đang là mối
quan tâm hàng đầu của Nhà nước và toàn xã hội. Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Quỹ Phát
triển Sử học Việt Nam, Tạp chí Xưa và Nay... và rất nhiều những tổ chức khác đã và đang kiên
trì con đường thúc đẩy sự phát triển của nền khoa học lịch sử quốc gia, phổ biến tri thức lịch
sử, góp phần giáo dục truyền thống văn hóa dân tộc tới toàn xã hội.
Đồng hành với mối quan tâm của toàn xã hội, Công ty Cổ phần Sách Alpha - một doanh
nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất bản, với tôn chỉ “Tri thức là sức mạnh” - đặc biệt quan
tâm tới việc góp phần nâng cao hiểu biết của người dân về truyền thống văn hóa lịch sử đất
nước.
Theo nhiều kết quả khảo sát, đánh giá nhu cầu của bạn đọc cho thấy, “lỗ hổng lịch sử” ở
không ít người trẻ hiện nay hoàn toàn có thể bù lấp một phần dựa trên nhiều nguồn tư liệu,
công trình nghiên cứu, sách cổ sách quý hiện đang được các Viện nghiên cứu, các tổ chức, cá
nhân lưu giữ. Để chung tay tái hiện một cách rõ nét những mảnh ghép lịch sử dân tộc, Công ty
Cổ phần Sách Alpha đã triển khai dự án xuất bản mang tên Góc nhìn sử Việt với mục đích xuất
bản lại và xuất bản mới một cách có hệ thống các công trình, tư liệu, sách nghiên cứu, sách văn
học có giá trị… về lịch sử, bước đầu hình thành nên Tủ sách Alpha Di sản.
Xin trân trọng giới thiệu.
Công ty CP Sách Alpha
QUY CÁCH BIÊN TẬP
Tủ sách “Góc nhìn sử Việt” ra đời, mục đích giới thiệu đến bạn đọc những tác phẩm hay, có
giá trị, đồng thời góp phần bảo lưu gìn giữ những giá trị văn hóa của đất nước. Để thực hiện bộ
sách này, chúng tôi tuân thủ một số quy cách sau:
1. Bảo toàn văn phong, nội dung nguyên gốc, từ ngữ mang đậm văn hóa vùng miền
trong tác phẩm (trừ khẩu âm).
2. Biên tập đối chiếu trên bản gốc sưu tầm được và có ghi rõ tái bản trên bản năm
nào.
3. Chú thích từ ngữ cổ, từ Hán Việt.
4. Tra cứu bổ sung thông tin: tiểu dẫn, tiểu sử, sự kiện, nhân vật, phụ lục (nếu cần
thiết)...
5. Sửa lỗi chính tả trong bản gốc.
6. Giản lược gạch nối từ ghép, khôi phục từ Việt hóa tiếng nước ngoài khi có đủ tài
liệu tra cứu tin cậy (trừ trường hợp từ ngữ đó đã dịch thành thuần Việt).
7. Trường hợp thông tin lịch sử trong sách có sai lệch so với chính sử, chúng tôi sẽ
chú thích hoặc đăng phụ lục ở cuối sách.
8. Một số hình ảnh trong sách gốc bị mờ, chất lượng kém… chúng tôi sẽ đăng bổ
sung - thay thế các hình ảnh có nội dung tương tự, chất lượng tốt (nếu có).
Mong đón nhận những ý kiến đóng góp của độc giả, hỗ trợ chúng tôi hoàn thiện tủ sách này.
Alpha Books
TIỂU DẪN
Bộ Tang thương ngẫu lục 桑滄偶錄 này do hai ông Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án cùng soạn
về năm Gia Long, chép những chuyện lặt vặt trong triều, ngoài nội mà hai ông đã nghe hoặc
thấy từ khoảng cuối Lê trở về trước.
Toàn bộ gồm có 90 chuyện, chia làm hai quyển, quyển trên 40 chuyện, quyển dưới 50
chuyện. Hai ông sinh hồi cuối Lê, cái khoảng đời đã xảy ra rất nhiều những việc bể dâu biến
đổi, mà bộ sách này chép nhiều câu chuyện biến thiên của hồi ấy, cho nên tên sách đặt là Tang
thương ngẫu lục, nghĩa là những câu chuyện ghi chép tình cờ trong cuộc bể dâu.
Ban đầu sách này chỉ có bản viết trong một thời gian gần trăm năm. Đến năm Bính Thân niên
hiệu Thành Thái thứ 8 (1896), ông Nghè Gia Xuyên Đỗ Văn Tân, Tổng đốc Hải Dương, quyên
tiền khắc ván, từ đấy mới có bản in mà sự lưu hành mới được rộng hơn trước.
Vì nghĩ là một bộ sách xưa, có bổ trợ cho nền sử học, nên chúng tôi đem phiên dịch in ra.
Ngòi bút thô lậu của chúng tôi, không biết khỏi có những chỗ sai lầm chăng, còn chờ ở các
bậc cao minh chỉ giáo.
Người dịch
TIỂU TRUYỆN PHẠM ĐÌNH HỔ
Ông Phạm Đình Hổ 范廷琥 (1768-1839(1)), tự Tùng Niên 松年, hiệu Đông Dã Tiều 東野樵,
người làng Đan Loan huyện Đường An(2) trấn Hải Dương, con quan Tham tri chính sự Phạm
Đình Dư 范廷璵. Vì là con vị đại thần, nên đương thời thường gọi là ông Chiêu Hổ.
Ông tư chất thông minh, học vấn rộng rãi. Tuổi trẻ thi đậu Sinh đồ, rồi vào học trường Quốc
tử giám. Gặp khi quân Tây Sơn từ phương Nam kéo ra đất Bắc, nhà tan nước vỡ, từ đấy ông
sống cái đời của một kẻ hàn nho. Bản triều đại định, trong đời Gia Long, ông có đi thi ba khoa
hương, nhưng đều trượt cả. Nhân sĩ Bắc Hà, ai cũng biết tiếng ông là người hay chữ. Vì thế thấy
ông thi trượt, có người bảo ông bị quan trường ghét mà đánh hỏng, bởi cớ ông nói năng không
chịu giữ gìn. Hồi ấy ông có nhà ở phường Thái Cực, huyện Thọ Xương, trong thành Thăng Long,
hằng ngày rèn dạy học trò, và vui với văn chương học vấn, có soạn ra được nhiều sách vở, trở
nên một nhà đại trước tác. Cũng trong hồi này ông kết bạn thơ rất thân mật với nữ sĩ Hồ Xuân
Hương, thường cùng nhau vịnh ngâm xướng họa, có những bài quốc âm bén giọng chớt nhả.
Niên hiệu Minh Mệnh năm đầu (1820), có chỉ triệu bọn các ông Phạm Đình Hổ, Phan Huy
Chú vào kinh đợi mệnh cất dùng, nhưng ông đương ốm không đi được. Mùa đông năm sau, ngự
giá ra Bắc, vời ông vào chầu ở điện Cần Chánh trong thành Thăng Long, hỏi về học vấn thi cử
và tình hình nhân tài đất Bắc, lại khuyên hễ có những sách vở về điển cố tiền triều, cùng là sách
trước thuật ra được đều nên đem tiến trình. Bấy giờ ông cũng đương ốm yếu lệt bệt, vua
truyền cấp cho mỗi tháng 2 phương gạo lương và 2 quan tiền. Ông lạy tạ trở về rồi có dâng lên
bốn bộ sách chép tay là những bộ này: Lê triều hải điển (2 quyển); Bang giao điển lệ (1 quyển);
Sứ quán bạn tiếp thư trát tập (1 quyển); Bạn tiếp thù phụng thi tập (1 quyển).
Sau khi ông mạnh, được triệu vào kinh. Ban đầu lĩnh chức Hành tẩu trong viện Hàn lâm, sau
thăng lên Biên tu, rồi lại thăng Thừa chỉ. Cuối cùng, được thăng đến chức Tế tửu ở trường Quốc
tử giám. Năm Minh Mệnh thứ 13 (1832), vì già yếu xin về trí sĩ.
Những sách ông trước soạn ra được, ngoài bộ Tang thương ngẫu lục này soạn chung với ông
Nguyễn Án thì còn có những bộ như: Vũ trung tùy bút lục, Hy kinh trắc lãi, Càn khôn nhất lãm
v.v…
Ông thọ đến ngoài 70 tuổi mới mất.
TIỂU TRUYỆN NGUYỄN ÁN
Ông Nguyễn Án 阮案 (1770-1815), tự Kính Phủ 敬甫, hiệu Ngu Hồ 愚湖, người làng Du Lâm,
phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc (Bắc Ninh), cháu đích tôn của ông tiến sĩ Nguyễn Bá (sau đổi là
Nguyễn Thưởng). Sinh gặp hồi cuối Lê loạn lạc, ông chỉ lấy thơ văn sách vở làm vui. Có làm nhà
ở tại trên bờ hồ Gươm, tự hiệu là Kiếm Hồ ngư ẩn. Vì là bạn chơi thân của ông Chiêu Hổ, nên
hai ông cùng nhau soạn chung ra bộ sách này. Bản triều thống nhất, niên hiệu Gia Long năm
thứ 4 (1805), mở khoa thi hương đầu tiên ở xứ Bắc, ông Án đi thi đỗ Cống sinh. Năm Gia Long
thứ 7 (1808), ông được bổ Tri huyện Tiên Minh (Hải Dương). Làm quan được 7 năm thì mất,
thọ 46 tuổi. Văn chương trước thuật, trừ bộ sách Tang thương ngẫu lục soạn với ông Chiêu Hổ,
ông còn có tập thơ Phong lâm minh lãi 風林鳴籟詩集 nữa.
TỰA
I.
Trời đất là một hóa cảnh, mở, đóng riêng chia, người vật là một sinh cơ, xưa, nay có khác.
Duy lẽ đạo của ta như một bầu nguyên khí bàng bạc, mà thường ký ngụ ở trong khoảng chữ
nghĩa văn chương. Ôi, gọi là tang thương, vì sao mà có tập sách này? Ốc hến trên núi, đó là tang
thương của vận giời; gươm cổ trong ruộng, đó là tang thương của việc người; kinh xưa không
thể lại thấy, chỉ thấy những sách chưa đốt của người Tần(3), sử đúng không thể lại được, chỉ
được bản thảo đã thành của Ban, Mã(4), đó là tang thương của sách vở. Song có người đem
xướng minh ra, thì lại có sự không tang thương ở trong.
Nước Nam ta từ đời Hồng Lạc đến nay, chính thống thì như Đinh, Lý, Trần, Lê, tiếm ngụy thì
như Mạc, Hồ, Nhạc, Huệ, lại nào sứ quân rạch đất, đô hộ cầm quyền, những cuộc tang thương,
há chẳng đã rất nhiều rồi sao! Than ôi, đạo ta vốn không có thời kỳ tang thương, nhưng người
ta tất có cái cảm khái tang thương, ấy tập sách tang thương này sở dĩ có là vì thế đó.
Tùng Niên là quan Quốc tử Tế tửu, hiệu Đông Dã Tiều, do chân trưng triệu mà ra, ông họ
Phạm đó; Kính Phủ là quan huyện doãn Tiên Minh, hiệu Ngu Hồ, ông họ Nguyễn đó. Hai ông
sinh về cuối đời Lê, gặp những cuộc biến bể dâu, nhưng bể học của các ông vẫn giữ được
nguyên trong lặng. Cho nên phát hiện ra văn, Tùng Niên viết bài ký núi Phật Tích, Kính Phủ viết
bài ký núi Tiên Tích, trong lời ký như có nét vẽ, có thể cùng với bài ký nguồn Đào hoa của Uyên
Minh đời Tấn cùng truyền. Lại còn như kể chuyện ba vị vua hiền đời Lê như Thánh Tông, Thần
Tông, Hiển Tông mà tường cả đến việc cũ ở trong phủ chúa; kể chuyện các vị danh thần đời
Trần như Chu Văn An, Trương Hán Siêu, Phạm Ngũ Lão, mà đến cả thói ngang ngạnh của Quận
mã Đặng Lân. Chép chuyện đền miếu ở thôn ấp, thì đến cả việc Thuần Dương tổ sư nhận lầm là
Liễu Hạnh công chúa, tượng cổ ở ngôi chùa đồng, bia đá ở núi Thành Nam, thần thiêng ở quán
Trấn Võ, thánh giang ở đền Linh Lăng. Chép chuyện mả tổ nhà người thì đến cả mả mẹ Đào
Khản, lại đem mả người thiếp của Phục Ba ra để đối chứng, thầy địa ở Tả Ao, mả phát ở Vân
Điềm, tiết phụ nhà họ Đàm, võ thần làng Quế Ổ. Tuy bậc danh công của lịch đại, hay người tài
nữ của một thời, đều vào trong ngọn bút phẩm bình. Chân nhân đi theo tiên, cùng là nông phu
trông thấy quỷ, cũng không hiềm là quái đản. Thậm đến cột gỗ biện gian, Thái Tây truyền đạo,
cùng những việc lạ ăn người, hóa hổ, cũng đều ghi chép. Từ Lý, Trần, Lê, Trịnh đến nay, trên
dưới mấy trăm năm, có những điều quốc sử chưa ghi, dã sử chưa chép, hai ông đều thu cả vào
trong cõi mắt tang thương. Nếu hai ông hết thảy đều cho là việc tang thương mà quên đi, thì
những chuyện ấy phỏng được mấy lâu mà mai một đi mất. May mà lấy ngòi bút tang thương
biên chép, nên nó còn là cánh bè chở bến mê, ngọn đèn soi nhà tối, đặt tên là Tang thương
ngẫu lục, ý nghĩa có thể nhận biết được vậy.
Nay ông Gia Xuyên đã gặp thời mà để ý vào việc kiếm sách, bác Hải Nông chưa gặp thời mà
dùng công vào việc khắc ván, cùng với tôi đều người trong cuộc tang thương mà ý thú tình cờ
gặp nhau. Vì thế nên tôi quen mình bỉ lậu, viết mấy lời lên đầu giấy, mong rằng không vì tang
thương mà phải bỏ đi thì may lắm.
Hoàng triều năm Bính Thân(5) tháng tiểu xuân ngày thượng cán(6)
Chủ nhân đình Tam An
Phùng Dực Bằng Sô
Cẩn tựa
II.
Việc không gì lớn bằng giữ gìn cái cũ, học không gì cần bằng bỏ trống chỗ ngờ, đó thật là lời
nói biết lẽ.
Nước Nam ta trải trăm nghìn năm, vẫn là một nước văn hiến cũ, nhà làm sử đời nào cũng có.
Song từ Lê về trước phần nhiều giản lược, khiến cho người khảo cổ thường phải băn khoăn,
vậy thì những dã sử ngoại truyện, sao nên để cho mai một.
Mậu này từ thủa nhỏ hầu học gia nghiêm(7), thường được người đem những chuyện các bậc
danh hiền đời trước của nước nhà mà kể cho nghe, như ông Hương cống họ Nguyễn ở làng Cổ
Đô mải miết học tập(8), ông Thám hoa họ Giang ở làng Mông Phụ đi sứ vẻ vang(9), ông Trạng
nguyên họ Vũ ở làng Trình Xá gieo ấn xuống bể mà chết theo nạn nước(10), và còn nhiều
chuyện khác nữa. Đó cũng là đem những chuyện thật ở ngoài chính sử mà kể, trẻ dại biết gì,
bấy giờ tôi chỉ biết vâng dạ mà thôi. Rồi sau đó đi làm quan xa, tôi từng được trông thấy tập
Tang thương ngẫu lục ở nhà người bạn. Xem tên người viết thì là Tùng Niên và Kính Phủ, cũng
chưa biết rõ là ai. Nhưng những chuyện biên chép trong đó, có nhiều chuyện đúng như tôi đã
được nghe, vậy không còn ngờ gì đó là một tập chép những sự thực. Năm nay tôi ở nhà báo
Đồng Văn, đã đem chuyện ông Hương cống Cổ Đô vào báo. Chợt người bạn cũ là bác Lê Hải
Nông đem tập này đến mà bảo: “Đây là sách của bậc danh hiền làng tôi soạn ra, nay ông bạn đỗ
đồng khoa của bác là quan Tổng đốc Hải Dương Đỗ Gia Xuyên quyên tiền lương bổng để khắc
ván, vậy bác làm cho một bài tựa”. Hỏi ra thì Tùng Niên là quan Tế tửu Phạm Đình Hổ người
làng Đan Loan, Kính Phủ là ông Hương cống Nguyễn Án đỗ khoa thi hương thứ nhất của Quốc
triều, người làng Du Lâm. Hai ông sinh về thời Cảnh Hưng nhà Lê, đến khi hoàng triều dấy lên
mới ứng mệnh mà ra làm quan. Trong khoảng đó Tây (Tây Sơn), Bắc (Tàu) tranh giành non
sông biến đổi, trắng xanh nhấp nhoáng, chớp mắt muôn màu, những việc tang thương, nói làm
sao xiết. Bộ sách này vốn không phải là đúng với bộ mặt thật, những chữ lầm lạc, không khỏi
chen lẫn ít nhiều, vậy cứ để khuyết nghi là phải. Tựu trung ghi chép những việc tai nghe mắt
thấy, đủ để bổ khuyết cho cái chỗ sử không chép đến. Có những câu chuyện quái đản, đại khái
là rút ra từ nét bút của chức Tả sử(11) và để ngụ cái ý thâm vi. Ban đầu chép các vua Thần Tông,
Hiển Tông, sau cùng thì lấy giấc mộng của Thánh Tông, Thuần Tông để kết. Chuyện thuộc về
bên nhà Phật, đáng nhẽ người quân tử không nói, hai ông cũng đã rằng vậy. Vậy mà trong sách
lại thường nói đến luôn, và chép một cách thẳng thắn, không tỏ ra nghi ngờ gì cả, chính là có ký
thác một cái ý ở trong đó vậy. Chao ôi, đó há chẳng là ý “đối với cái thời các bậc anh hiền đời
Tam Đại, ta chưa kịp thấy nhưng mà vẫn để lòng mong ước”(12) đấy ư? Thời nay phong khí mở
mang, mỗi ngày mỗi lạ. Bên ngoài bể cả, bậc đá phẳng như đá mài, đường sắt giăng như bàn cờ,
rực rỡ lầu pha lê, tưng bừng đèn điện khí, đó là nương dâu đó chăng? Lại như cắp cánh máy bay
lên trên không, cưỡi khí cầu đi tìm Bắc cực. Sau đây mấy chục năm nữa, những dấu vết của thời
kỳ cũ kỹ, há chẳng theo cùng một giấc mộng mà biến mất không còn tý gì. Song trạm khắc đã
chán thì lại nhớ đồ mộc, góc giác đã vỡ thì lại nhớ hình tròn, đó là cái tình rất thường mà cái lý
tất đến như thế. Lấy cái ý khuyết nghi tồn cổ mà suy, không nên cẩu thả làm cho văn xuôi chữ
thuận, hẵng để dành lại cho những người học kỹ nghĩ sâu sau này, như nhời ở bài tựa quyển
Chiến Quốc sách đã nói, Mậu đối với quyển sách này, cũng nghĩ như vậy.
Niên hiệu Thành Thái năm Bính Thân sau tiết Đông chí.
Phó bảng khoa Canh Thìn, trông coi công việc tòa báo Đồng Văn.
Giá Sơn Kiều Oánh Mậu
Cẩn tựa
PHẦN I. TANG THƯƠNG NGẪU LỤC - QUYỂN
THƯỢNG
THẦN TÔNG HOÀNG ĐẾ(13)
Vua Kính Tông hồi tiên triều (triều Lê), ở ngôi lâu năm, mà chưa sinh hoàng nam để lập làm
Thái tử, thường cầu khấn trời đất quỷ thần mãi. Rồi hoàng hậu Trịnh thị có mang, đến ngày lên
giường cữ, mãi chưa sinh được, lòng vua lo lắng. Chợt vua chiêm bao thấy có người bảo:
“Hoàng tử còn ở chợ Báo Thiên(14), hậu cung sinh mau sao được!”. Tỉnh dậy, vua sai nội giám
thử ra chợ ấy dò xem. Bấy giờ vừa tang tảng sáng, chợ vắng tanh chưa có ai. Nội giám chỉ thấy
dưới gầm phản hàng thịt, có lão ăn mày tóc bạc phơ, tuổi chừng 81, 82, đương nằm ở mặt đất
mà rên hừ hừ, ngắc ngoải chờ chết. Nội giám vội chạy về tâu. Vua lại sai ra thăm hỏi xem. Sáng
ra thì lão ăn mày chết mà giữa lúc ấy, trong cung hoàng hậu đã sinh ra hoàng tử. Hoàng tử
nhớn lên nối ngôi, tức là Thần Tông. Khi ở ngôi, lấy ngày sinh làm tiết Thọ Dương. Hằng năm
đến ngày, nhà chức trách dựng hành tại(15) ở chợ Báo Thiên; bộ Lễ sắm xe giá tàn quạt, đến nơi
hành tại, rước hai cây thiên tuế, vạn tuế làm bằng trúc về cung; quan ở tòa Kinh Diên rước hai
cây ấy đi quanh giường ngự ba vòng, chúc Hoàng đế sống lâu muôn tuổi. Lễ cử hành xong, vua
ngự ở điện Vạn Thọ, chịu lễ chầu mừng, ban yến ở sân điện. Các triều vua sau cũng theo như
thế, gọi là lễ Khánh Thọ bảo thần. Vua sinh được bốn con là Chân Tông, Huyền Tông, Gia Tông,
Hy Tông đều lên ngôi thiên tử, phúc thọ vào bậc nhất ở đời trung hưng.
Khoảng năm Vĩnh Hựu (1735-1740), vua Ý Tông thường chế hạc gỗ và lực sĩ Chiêm Thành
(người phỗng) dâng cúng ở trước tượng thờ vua Lý Thần Tông tại chùa Thiên Phúc, núi Phật
Tích(16), vì tương truyền hậu thân vua Lý Thần Tông tức là vua Thần Tông triều Lê.
Xét cái thuyết tiền thân, hậu thân là xuất tự kinh điển nhà Phật, người quân tử(17) chẳng hề
nói đến. Nếu quả có chuyện ấy thật thì tiền thân vua Lý Thần Tông là thầy tu Từ Đạo Hạnh, hậu
thân là lão già ở chợ Báo Thiên, lại hậu thân là vua Thần Tông triều Lê; một ông sư, một lão ăn
mày, tái sinh vào nhà đế vương, khiến người không thể hiểu nổi.
HIỂN TÔNG HOÀNG ĐẾ
Năm Cảnh Hưng Ất Tỵ (1785), gặp kỳ lễ thọ thất tuần của Hiển Tông hoàng đế, đình thần là
ông Bùi Huy Bích, ông Hồ Sĩ Đống ở trong chính phủ, bàn dâng tôn hiệu là Uyên Ý Khâm Cung
Nhân Từ Đức Thọ Hoàng Đế và làm lễ trong ngày tiết Thánh Thọ. Bấy giờ việc chầu trong triều
đường bỏ bễ từ lâu; nền điện cũ ở Nùng Sơn bỏ làm điện Kính Thiên, thờ Hiệu thiên Thượng đế
(giời), Hậu thổ Địa kỳ (đất), và phụ phối đức Thái Tổ hoàng đế. Những ngày mồng một và rằm,
vua ra coi chầu ở điện Cần Chính. Viện Đãi Lậu ở hai bên điện ấy nối nhau sụp đổ, cỏ mọc lên
thềm và ngập đến đầu gối, phân ngựa vấy ra bừa bãi. Đến bấy giờ, sai viên Đề lĩnh đốc suất bọn
vệ sĩ sửa dọn thềm son, chữa viện Đãi Lậu. Trước một ngày, quan Phủ doãn Phụng Thiên(18) là
Hoàng Vĩnh Trân đem những thuộc quan mặc đồ triều phục, đến túc trực ở nhà giám Tư lễ, coi
giữ biểu mừng. Đến ngày, hoàng thượng ngự lên bảo tọa, hai ban văn võ dàn theo thứ tự.
Ông Hoàng tử Đại tư đồ Sùng Nhượng công đứng đầu võ ban, ông Hồ Sĩ Đống đứng thứ hai;
Quốc lão quận công Nguyễn Công Hãng(19) đứng đầu văn ban, ông Bùi Huy Bích đứng thứ hai.
Tòa Hồng lô róng rả các viên Tự ban trong sở Hạp môn, chia ra nội tán ngoại tán để xướng lễ.
Ông Phan Huy Ích quỳ ở phía hữu ngự điện, tuyên đọc tờ biểu, tiếng vang ra tận cửa Đoan
Môn. Lễ thành, viên thái giám mặc áo bào hồng, thắt đai văn tê, từ phía hữu ngự tọa xuống
thềm tuyên chỉ, ban yến ở viện Đãi Lậu. Những ông già bà cả ở kinh đô đều nói:
- Từ niên hiệu Chính Hòa(20) đến nay, trải 80 năm, không được trông thấy lễ này.
Tờ biểu (có chép trong sách Hoàng Việt văn tuyển) mở đầu có hai vế:
黼座天開,龜籌薦壽康之福
Phủ tọa thiên khai, quy trù tiến thọ khang chi phúc,
彤庭日麗,虎拜揚保定之休
Đồng đình nhật lệ, hổ bái dương bảo định chi hưu.
(Ngai thêu trời mở, thẻ rùa dâng phúc thọ khang. Sân son nắng chiếu, gối hổ chúc lành bảo
định).
Giữa có hai vế:
千春歷始登四紀
Thiên xuân lịch thủy đăng tứ kỷ,
萬年籌初逮七旬
Vạn niên trù sơ đại thất tuần.
(Lịch nghìn xuân mới lên bốn kỷ(21);
Thẻ muôn năm vừa tới bảy tuần).
Còn nữa không chép ra đây hết.
CHUYỆN CŨ TRONG PHỦ CHÚA
Kính Phủ
Sau khi vạc đổi(22), có tên Đang làm mướn cho tôi. Vốn là chân nội thị đời chúa Tĩnh
Vương(23), kể lại những chuyện cũ ở trong cung phủ rất tường. Mỗi năm đến Tết trung thu, từ
trước mấy tháng, chúa phát gấm trong cung ra để làm hàng trăm hàng nghìn cái đèn lồng, cái
nào cũng tinh xảo tuyệt vời, mỗi cái giá đến mấy chục lạng vàng. Đến ngày, chúa ngự giá ra
chơi Bắc cung. Cung có ao gọi là Long Trì, rộng nửa dặm, trong ao trồng rất nhiều hoa sen, hoa
súng. Ven ao đắp đất, chồng đá làm núi, chỗ cao chỗ thấp, dàn đặt có hình có thế. Có những chỗ
khuỷu để cho nhạc công ngồi đàn sáo. Bờ ao trồng hàng mấy trăm cây phù dung, treo đèn ở
trên. Sóng trăng dập dờn, trông xa tựa hồ hàng vạn ngôi sao sáng. Nội thị từ tam phẩm trở lên,
chít khăn mặc áo như đàn bà, bày hàng ở rìa đường, bán những tạp hóa cùng các đồ hoa quả,
chả, rượu, thức gì cũng có, chồng chất như núi. Cung nhân qua lại mua bán, vừa mua vừa cướp,
không cần hỏi giá cả bao nhiêu; đua nhau đem những câu hát quê ra đối chọi với nhau, tiếng
cười đùa vang cả trong ngoài. Nửa đêm chúa ngự kiệu đến ao, xuống thuyền. Quan hầu và các
phi thiếp gõ ván hò reo, đi lại vùn vụt và lênh đênh trên sông. Chợt lúc lại đánh đàn, lại thổi sáo,
lại ca hát, tiếng vang lanh lảnh, khiến người tưởng như lên chơi cung Quảng hàn(24) mà nghe
khúc nhạc Quân thiên(25). Chúa nhìn ngắm lấy làm vui sướng, đến mãi gà gáy mới về.
ÔNG NGUYỄN DUY THÌ
Quan Thượng thư Nguyễn Duy Thì là quan tể tướng có tiếng đời Trung hưng, giữ mình ngay
thẳng và khéo xoay đổi được ý của vua chúa. Trong phủ chúa có một cái kiệu, kiểu cách và sơn
vẽ rất lộng lẫy. Một hôm, ông đứng cạnh, chợt ngã vật vào trong kiệu, cấm khẩu, không nói
được câu gì. Chúa sai khiêng đưa về phủ. Sáng hôm sau, ông vào khải(26) rằng:
- Thần hôm qua ngộ cảm, đội ơn chúa thượng bao dung. Cái kiệu ấy, thần đã trót ốm nằm lên
rồi, không tiện lại tiến phụng nữa. Xin sẽ sắm cái khác đẹp đẽ hơn, dâng nộp.
Chúa hiểu ý, không trách hỏi nữa.
Một lần, ông vào xin phép chúa để về Yên Lãng(27). Bấy giờ chúa yêu một bà phi người làng
Mông Phụ, bà phi ấy được yêu chiều quý báu nên uy thế cũng khá to. Ông vẫn thường nói xa để
khuyên ngăn chúa. Nay nhân dịp ông cáo về vắng, chúa ngự thuyền rồng lên kinh lý Sơn Tây,
tiện đường rẽ vào thăm làng nhà bà phi. Thuyền chúa qua hạt Yên Lãng. Ông chờ rồi phục lạy ở
bến sông, nói bốn phương không có giặc giã, sao lại vì một người đàn bà mà làm nhọc đến sáu
quân, như vậy quốc thể còn ra sao nữa. Kíp truyền cho quân sĩ không được bơi thuyền tiến lên,
hễ ai trái, sẽ lấy quân pháp trị tội. Chúa vì thế phải hồi loan.
Trong phủ(28) của ông có một nếp nhà gọi là nhà Tư chính(29), đó là nơi để khi lui chầu, ông
về nghỉ ngơi. Trong nhà ấy chỉ có hai gã tiểu đồng hầu hạ; bà vợ và hầu thiếp, không ai được
bén mảng tới, và cũng không dám đem việc riêng kêu xin gì cả. Một lần, có một cái án lớn, tội
nhân đáng phải tử hình. Người nhà đem tiền của chạy chọt hết các cửa quyền quý, nhưng ai
cũng bó tay, không thể cứu nổi. Người vợ tội nhân đón hai tiểu đồng mà khóc lạy, nhờ đưa hai
nghìn lạng bạc lễ ông để ông gỡ tội cho. Tiểu đồng xua tay nói:
- Tướng công đây không phải là người đem vàng bạc làm động lòng được. Nhưng tôi không
nỡ trông thấy chị đau đớn, vậy để hẵng thử xem.
Tiểu đồng đem bạc vào nhà Tư chính, để trên cạnh giường ông nằm. Đêm khuya, ông chợt từ
trong chính phủ về, trèo lên giường nằm, đụng phải; bạc rơi loảng xoảng xuống đất. Giật mình
hỏi tiểu đồng sao lại có những vật này. Tiểu đồng quỳ xuống xin chịu tội chết và nói duyên cớ.
Ông im lặng lúc lâu rồi nói:
- Thôi cho đứng dậy, ta không bắt tội mày. Tử hình là một cái án lớn. Vì mối lợi hai nghìn
lạng, mày là một đứa bé con dám đem cái chết để đương lấy. Hoặc giả bởi ý giời chăng? Thế mụ
ấy cho mày bao nhiêu?
- Bẩm sáu trăm lạng.
- Thôi, số bạc này cho mày, ta không dùng gì đến.
Liền ngay lúc ấy, ông đi xe đến gõ cửa cung. Chúa giật mình trở dậy, cho vời vào, hỏi chuyện,
tưởng là có việc gì lớn lao về quân quốc. Ông nói hôm qua xét án, đã xử tội nhân phải chết,
nhưng đêm về chiêm bao, thấy có người nói oan ức, không biết kêu đâu, vậy xin nhờ chúa xét
lại! Chúa cười:
- Tiên sinh chịu khó quá, để đến sáng mai vào hầu sẽ nói có được không?
- Nhưng thần sợ để chậm, chốc lát rồi bị ý riêng nó làm thay đổi đi.
Chúa ân cần yên ủy mà tên tù rồi được khỏi chết.
HỒ GƯƠM
Đời Lê, năm Cảnh Hưng Bính Ngọ [1786] mùa hạ, tại hồ Hoàn Kiếm, đương nửa đêm bỗng
có vật gì mọc lên ở hòn đảo, sáng rực bốn bề, bay sang đến bờ nam thì tắt. Sóng hồ cuộn lên.
Sáng hôm sau, tôm cá nổi lên mặt hồ không biết bao nhiêu mà kể. Có người nói ở nhà Trung
Hòa trong phủ chúa, cũng có vật gì mọc lên từ nóc nhà, sáng rực rồi tắt, cũng giống như ở hồ
Hoàn Kiếm. Chưa bao lâu xảy ra việc quốc biến(30).
ÔNG NGUYỄN VĂN GIAI
Ông Nguyễn Văn Giai ở Thiên Lộc(31) hồi chưởng quản Lục bộ, các bậc thân quý của vua
chúa đều phải nín hơi, không dám xúc phạm. Một vị quận mã(32) trong phủ chúa đi đánh trận
thua chạy, ông bắt bỏ ngục, rồi xử vào tội tử. Chúa muốn tha nhưng rất khó nói. Nhân cầu đến
dụ chỉ nhà vua, cũng vẫn không lay được chí định của ông. Bấy giờ ông có nhiều vợ, có đến năm
sáu bà, địa vị hầu như là bà Chính phu nhân, mà có bà Ba được ông yêu dấu lắm. Bà quận chúa
đem châu ngọc, nhờ bà phó mẫu(33) dẫn đến thăm bà ba và kể việc quận mã. Bà Ba từ chối mà
rằng:
- Tướng công tôi là người thanh liêm, thẳng thắn. Việc lớn của triều đình, tôi đâu dám dự.
Quận chúa cố nói thiết thảm, bà Ba bèn bảo:
- Nếu vậy sáng mai, quận chúa cho đem một con lợn nhỏ luộc chín, một mâm xôi thổi nếp
cái, và kèm cả tương giấm, dao thớt nữa, lựa lúc tướng công tôi đi vắng, đưa vào.
Quận chúa mừng rỡ cảm ơn.
Sáng hôm sau, sắp sửa vào triều, ông bảo dọn cơm sáng để ăn. Bà Ba nói:
- Trong triều bây giờ các quan đến đầy rồi. Tướng công hãy vào rồi về sẽ xơi cơm thì hơn.
Ông lên kiệu đi. Lúc ở trong triều về thì bụng đói ngấu, thấy cái lồng bàn đậy, mở ra, sẵn dao
và thớt, thái luôn ngay thịt lợn ăn lẫn với xôi. Chỉ có một lúc hết cả. Ăn xong, ông chợt hỏi:
- À, những thứ ấy ở đâu mà có thế nhỉ?
Bà Ba kể duyên do. Ông rất tức bực, lúc lâu mới nói:
- Ta lầm lỗi rồi! Ta lầm lỗi rồi! Nhưng vì một bữa ăn no mà làm sống một mạng người, chẳng
cũng bởi giời hay sao!
Liền lên xe vào phủ, xin tha cho người có tội. Chúa mừng rỡ mà nghe theo ngay.
Một hôm, ông vào triều đi qua chợ Cửa Đông, thấy con cá mè lớn, bề ngang đẫy thước. Ông
dừng lại hỏi và khen ngợi. Rồi ông về nhà, thấy rất nhiều người đem biếu cá, toàn là những
khúc cá mè cả. Ông đùa, bảo thử chắp lại xem, thấy chỉ thiếu đuôi, còn thì đều đủ thân hình con
cá. Ông than rằng:
- Có lẽ con cháu ta sau này không được thịnh vượng chăng(34)?
Sau khi ông mất, quả đúng như lời ấy.
…(35)
Sau đấy, Quốc lão Phạm Công Trứ cầm quyền quốc chính. Có một viên tù trưởng thượng du
phạm tội chết. Chị vợ luồn lọt với người bếp nhà ông. Người bếp xui đem biếu chim sẻ vàng, vì
đó là món ông rất thích. Đem chim sẻ đến, người bếp nướng chả dâng lên. Ông ăn xong rồi hỏi.
Người bếp đưa số vàng lễ ra và phục xuống xin chịu tội. Ông thò tay vào cổ họng móc để thổ ra
rồi nói:
- Thôi, mày đem số vàng ấy đi, tao tha cho không quở trách nữa.
Khi án đem ra xử, ông nói với chúa Trịnh tha cho người tù trưởng...
 





